Chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang

27/07/2013

Sau chiến thắng Xương Giang, được tin viện binh của giặc Minh sắp sửa kéo sang, phần lớn các tướng đều khuyên Bình Định Vương Lê Lợi tiêu diệt gấp thành Đông Quan, để diệt hết quân địch ở bên trong làm nội ứng.
Nhưng Lê Lợi lại có chủ trương sáng suốt hơn:
- Đánh thành là mưu thấp, chi bằng nuôi sức quân, tích lũy lấy tinh thần sắc bén, đợi giặc đến ta đánh phá ngay. Một khi viện binh đã bị tuyệt diệt thì thành Đông Quan tất phải đầu hàng. Đó là mưu trước vạn toàn: Làm một việc mà được cả hai (1).
Để chuẩn bị cho công cuộc diệt viện toàn thắng, bộ chỉ huy của nghĩa quân Lam Sơn đã tiến hành chuẩn bị như sau:
- Các lộ Lạng Giang, Bắc Giang (2), Tam Đái (3), Tuyên Quang (1), Quy Hóa (2) làm cho “Đồng ruộng sạch quang” (kế thanh dã: Vườn không nhà trống) để tránh mũi dùi sắc bén của địch, bao vây địch, bảo toàn lực lượng của ta.
Họp toàn thể hội đồng các tướng lĩnh, Lê Lợi ra chỉ thị: Quân địch cậy mạnh lấn yếu, ỷ đông hiếp thế ít người. ý chúng cốt chỉ chạy theo mối lợi, chứ không đoái nghĩ gì đến chuyện khác. Chúng đi gấp suốt ngày đêm từ hàng nghìn dặm sang đây để cứu viện. Thế là đúng như binh pháp đã nói: “Quân đi hàng trăm dặm mà chỉ vội nhằm lấy lợi thì viên thượng tướng tất bị kiệt quệ” (binh pháp Tôn Tử - LKT). Bấy giờ chớp thời cơ chúng mới đến, người mệt, ngựa mỏi, chúng ta với cái thế lấy sức thong thả chờ đợi quân giặc đang nhọc nhằn, đánh ngay cho đòn phủ đầu để làm bại tinh thần của chúng thì không còn chệch đâu mà không thắng nữa. “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn cũng đã chép: “Tổng binh nhà Minh là An Viễn hầu Liễu Thăng đem quân 10 vạn từ Quảng Tây đến, Kiềm quốc công Mộc Thạnh đem quân 5 vạn từ Vân Nam đến - ngoài biên giới báo về rất khẩn cấp - vua sai các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Nhân Thụ đem quân và voi lên trấn ải Chi Lăng, đặt quân phục để đợi quân viện ở Quảng Tây. Vua ra lệnh cho các hạt Lạng Giang, Tam Đái, Tuyên Quang, Quy Hóa dời vợ con, quân dân để tránh khi viện binh kéo sang”.
Vua hội các tướng bàn rằng: “...Nay Liễu Thăng lại đây, đường sá xa xôi, người ngựa mỏi mệt, nhất định phải thắng, bấy giờ vua sai Trần Hãn, Lê Sát giữ chỗ hiểm, đánh chỗ tiện lợi, chặn đánh thế trên” (1).
Ngày 18 tháng 10 năm Đinh Mùi (1427) đạo quân của Liễu Thăng bắt đầu tiến vào cửa ải Pha Lũy - Lạng Sơn (2) sau khi dẫn đoàn quân của 5 xứ là: Kinh, Hồ, Giang, Triết và Phúc Kiến ra đi từ tháng ba. Liễu Thăng là viên tướng rất kiêu hùng dưới triều Minh Thành Tổ (1403 - 1425), đã tham gia nhiều cuộc chiến tranh, lập nhiều chiến công và thăng quan tiến chức rất nhanh.
Từ một viên tướng “bách hộ” (hưởng lộc 100 nhà) chỉ huy vài trăm quân, tham gia cuộc đánh chiếm nước ta năm (1406 - 1407) dưới quyền của Trương Phụ, được phong chức “Đô chỉ huy thiêm sự”, khi đánh bại cha con Hồ Quý Ly, Thăng được phong tước “An Viễn bá” ăn lộc 1000 thạch thóc.
Từ sau năm 1407, sau ba lần tham gia Bắc chinh đánh Mông Cổ, Thăng được phong tới tước hầu, ăn lộc tới 1500 thạch thóc, hàm Thái bảo và trở thành một quan chức cao cấp của triều đình nhà Minh (1).
Lần này, Liễu Thăng vào nước ta có 10 vạn quân với nhiệm vụ tiếp viện và giải vây cho Vương Thông. Dưới quyền của tổng binh Liễu Thăng gồm có:
Lương Minh: Bảo Định bá, phó tổng binh.
Thôi Tụ: đô đốc, phó tướng.
Lý Khánh: Binh bộ Thượng thư, giữ chức tham tán quân vụ.
Hoàng Phúc: Công bộ Thượng thư và hơn 300 tướng lớn nhỏ khác, tiến từ Quảng Tây sang Đông Quan.
Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đã chọn điểm đón tiếp Liễu Thăng - tức là điểm quyết chiến chiến lược ở sườn núi Đảo Mã ải Chi Lăng, thường gọi là ải Chi Lăng, là một thung lũng nhỏ, cách Pha Lũy (Nam Quan) khoảng 60 km về phía Nam, cách thành Đông Quan (Hà Nội) hơn 100 km về phía Bắc.
Với chiều dài gần 4 km theo hình bầu dục, hai đầu Nam Bắc thu hẹp gần như khép kín, chỗ rộng nhất hơn 1 km. Phía tây là dãy núi đá lởm chởm, vách đá dựng đứng, mà nay có tên gọi là dãy Cai Kinh, mang tên một lãnh tụ phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX hoạt động ở vùng này. Phía đông là dãy núi Quỷ Môn, núi đá Phượng Hoàng liền với dãy núi đất thuộc hệ núi Thái Hòa và Chi Lăng. Dòng sông Thương bắt nguồn từ núi Kháo (dốc Xài Hồ) men theo sườn núi Cai Kinh, chạy qua các huyện Chi Lăng, Hữu Lũng thuộc tỉnh Lạng Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, rồi xuôi về Ngã Ba Nhãn, xuống sông Lục Đầu. Được tin viện binh của Liễu Thăng vào biên giới, Lê Lợi đã quyết định.
- Cử tướng Trần Lựu giữ cửa ải Pha Lũy, ngăn chặn viện binh ngay từ biên giới. Nhiệm vụ của tướng Trần Lựu là vừa chặn giặc lại, vừa giữ giặc.
- Cử Lê Sát, Trần Nguyên Hãn và Lê Nhân Chú chỉ huy cuộc phục kích ở Chi Lăng để đón đánh Liễu Thăng (Đại Việt thông sử).
Sử “Toàn thư” và “Cương mục” thì ghi rằng Lê Sát được cử lên đánh ở Chi Lăng. Còn tướng Trần Nguyên Hãn thì ở lại Xương Giang chờ đón đánh tan quân địch sẽ tràn xuống, đồng thời Trần Nguyên Hãn sẽ chỉ huy việc tiêu diệt đường tải lương của địch.
Ngày mồng 8 tháng 10, Liễu Thăng bắt đầu vào cửa ải Pha Lũy.
Tướng Trần Lựu cản địch, rồi rút lui theo kế đã định về giữ đồn ải Lưu.
Liễu Thăng tiến đến ải Lưu, Trần Lựu chạy về giữ ải Chi Lăng.
Mắc vào mưu kế của Bình Định Vương: vừa đánh, vừa rút nhử địch vào trận địa, tướng Liễu Thăng kiêu căng xông xáo tiến lên trước, bỏ qua lời bàn của các tướng thuộc hạ. Sử “Cương mục” ghi như sau: “Bấy giờ Trần Lựu phòng thủ cửa Pha Lũy, thấy giặc đến lui giữ cửa ải Lưu, giặc tràn đến giành lấy ải Lưu, Trần Lựu lui giữ cửa ải Chi Lăng - phía trước cửa ải này, cứ cách từng quãng lại có rào lũy để chống giữ. Liễu Thăng, thừa thắng đánh gấp, phá luôn được. Tiến đến đâu không còn ai dám chống cự nữa. Thăng rất đắc ý” (1). Cũng sự kiện đó “Minh sử” chép: “Tháng 9, Thăng mới đến cửa ải Lưu, Lợi đã xin hòa với Thông bèn nói bừa rằng họ Trần còn có con cháu, cho đại đầu mục mang thư đến quân Thăng xin bãi binh và lập con cháu họ Trần. Thăng không mở thư, sai sứ đem luôn về tâu” (2).
“Tháng 9, Thăng mới đến cửa ải Lưu, Lợi giả bảo người nước dâng thư lập con cháu họ Trần; Thăng không mở thư, gửi luôn về tâu, dọc đường, giặc giữ hiểm bày rào, quan quân phá lên tiếp, tiến đến cửa Trấn Di. Thăng thấy giặc thua, luôn xem khinh. Bấy giờ Lý Khánh và Lương Minh ốm nặng, lang trung Sử An và chủ sự Trần Dung nói với Khánh rằng: Liễu tướng quân lời nói sắc mặt đều kiêu, kiêu là điều binh ra rất kỵ, giặc có thể là tỏ ra yếu để dụ quân ta chưa biết chừng. Sắc thư (của vua) đã răn dạy rất thiết tha là phải phòng giặc mai phục, ông nên gắng nói. Khánh gượng dậy bảo Thăng. Thăng không để ý” (3).
Như vậy là tình hình trong hai ngày mồng 8 và mồng 9 tháng 10, chiến sự ở Chi Lăng đã diễn ra đúng như dự đoán và sự bố phòng của nghĩa quân Lam Sơn: Liễu Thăng và 10 vạn quân Minh đã mắc mưu.
Sang ngày 20 tháng 10, Liễu Thăng tự đốc xuất quân tiên phong tiến lên vào trong ải Chi Lăng.
Sách “Thông giám tập lãm” dẫn trong sử “Cương mục” ghi rõ ràng như sau: “... Thăng không mở thư xem, sai ngay sứ giả đem việc ấy lên tâu vua Minh, rồi vội vã tiến quân phá luôn được vài mươi chặng quan ải Trấn Di - Thăng tỏ ý khinh địch. Lang trung Sử An và chủ sự Trần Dong (Dung) e rằng phía địch bề ngoài làm ra yếu kém để nhử quan quân, vội nói với Lý Khánh khuyên Thăng nên thận trọng, đừng có khinh suất tiến quân - bấy giờ Lý Khánh và Lương Minh ốm nặng, gượng bệnh trở dậy đi khuyên bảo Thăng, còn đô sự Phạm Nhân thì nhắc lại chuyện thua trận ở Ninh Kiều để răn bảo Thăng. Thăng không để ý đến những lời can ngăn ấy, xông xáo ngay đến sườn núi Đảo Mã, cùng với hơn 100 quân kỵ, dong duổi lên trước, định vượt qua cầu, cầu hỏng, cánh quân hậu đội không tiến lên được, Thăng sa lầy” (1). Chỉ chờ có thế, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát tung quân ra đánh. “Đại Việt thông sử” chép ngày 20 Liễu Thăng thân tự đốc đạo quân tiền phong tiến tới, Trần Hãn và Lê Sát liền đem quân phục binh ra đánh, phá tan, chém đầu Liễu Thăng tại núi Mã Yên (xem Đế Kỷ đệ nhất Thái Tổ). Tổng binh Liễu Thăng bị giết chết, sử “Cương mục” chép: “Khi Thăng đến chỗ còn cách Chi Lăng vài dặm, các tướng Lê Sát và Trần Lựu ra đánh, giả cách thua chạy. Thăng hí hửng mừng, chính hắn cầm đầu hơn trăm quân kỵ, xông xáo lên trước, xa lìa toán quân hậu đội, rồi hắn vì lầm lỡ, sa xuống lầy. Phục binh của ta nổi dậy, đánh cho quân lính phải thua liểng xiểng, chém Thăng ở sườn núi Đảo Mã và hơn vạn thủ cấp quân Minh”. Các sách khác như “Toàn thư”, “Đại Việt thông sử” cũng đều chép Liễu Thăng bị chết ở sườn núi Mã Yên. Theo truyện kể của nhân dân hai xã Chi Lăng và Quang Lăng thì Liễu Thăng bị thương nặng ở núi Mã Yên, nhưng vẫn chạy về khe Bồ Đài, giáp giới hai xã Quang Lăng và Mai Sao mới chết. Dưới chân núi có hòn đá hình người nằm và dân vùng này gọi đó là hình Liễu Thăng chết trận.
Tại đền Thượng xã Sơn Đông, cũng còn những vế câu đối nhắc về chiến công này:
“Yên Sơn hữu thạch anh hùng kiếm”
Hoặc:
“Mã Thạch liễu đầu thanh bắc khấu”.
Cùng một câu thơ của Nguyễn Khắc Nhu là thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, viết “Yên Sơn hữu thạch phù tân chủ” là để nhắc nhở tới hòn đá và chiến công của Trần Nguyên Hãn.
Về cái chết của Liễu Thăng, hầu hết các sử sách của Trung Quốc đều cho rằng khi vượt qua cầu, Thăng bị sa lầy và chết vì trúng “phiêu”.
“Phiêu” tức là cái lao, là một thứ binh khí xưa, hình giống đầu cái “Mâu” có cán dài bằng tre hoặc gỗ, cuối cán có vòng và dây để người cầm lao khi phóng xong thì giựt lại. Người sử dụng lao có thể từ xa mà phóng để giết chết kẻ địch.
Nhân dân xã Sơn Đông, xuất phát từ sự tin tưởng, kính trọng vị tướng tài nơi quê mình, nên đã mô tả cái chết của Liễu Thăng như một chiến công hiển hách vô song của Trần Nguyên Hãn. Hơn nữa, trong dã sử, lại coi chính Trần Nguyên Hãn là người chém đầu Liễu Thăng “Chém đến bảy cái đầu mọc lên” Liễu Thăng mới chịu chết.
Thoát ra khỏi ải Chi Lăng, quân Minh chỉ còn 9 vạn do phó tổng binh là Bảo Định Bá Lương Minh lên thay, tiếp tục tiến về phía Xương Giang.
Ngày 25 tháng 10 năm 1427 (tức ngày 25 tháng 9 năm Đinh Mùi), quân Minh lại lọt vào trận địa phục kích của tướng Nguyễn Lý và Lê Văn An đang chỉ huy 3 vạn quân tiếp ứng cho Lê Sát và Lưu Nhân Chú với 1 vạn quân ở Chi Lăng rút về tại Cần Trạm.
Cần Trạm nằm dưới chân núi Bảo Đài, là nơi tiếp giáp giữa miền thượng và miền trung du, từ vùng núi trùng điệp của Lạng Sơn về vùng trung du của Lạng Giang. Cần Trạm có thành lũy bằng đất, được xây dựng trên một vùng bằng phẳng, cạnh các đồi núi nhỏ của hệ núi Bảo Đài, nằm cách thị trấn Kép ngày nay khoảng 1 km về phía Đông. Thành Cần Trạm hình vuông, mỗi bề dài khoảng 100 mét. Xung quanh thành có hào sâu bao bọc mà nhân dân đều gọi là “Đấu đóng quân” hoặc còn có tên gọi là “Ngô Bình đấu thành”.
Sau khi chiếm nước ta, quân Minh đã lập nên doanh trại án ngữ nơi đây và giao cho một viên đô ty chỉ huy. Trận Cần Trạm diễn ra trên chiến trường dài gần 1 km suốt từ cánh đồng đông bắc thành đến tận phía nam thị trấn, mà nay còn có tên cho cánh đồng phía đông bắc thành là “Bãi Chiến” và gò đất phía nam Kép gần quốc lộ 1A là “Nghè Trận”.
Tại đây, hai vạn quân Minh bị diệt, phó tổng binh Bảo Định Bá Lương Minh bị mũi lao đâm chết.
Đô đốc Thôi Tụ vội vã lên thay quyền, bên cạnh có Binh bộ Thượng thư Lý Khánh và Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc, cùng kéo gấp về Xương Giang.
Ngày 18 tháng 10 năm 1427 (tức ngày 28 tháng 9 năm Đinh Mùi) quân Minh tiến về đến Phố Cát.
Đây là vùng đồi đất thoai thoải giữa Cần Trạm và Xương Giang, ở khoảng xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang, cách thành Xương Giang 9 km về phía Bắc.
Đến đây, do khiếp sợ vì bị tấn công liên tục, Lý Khánh đã thắt cổ tự tử.
Như vậy là sau hai ngày vào đất Đại Việt, quân Minh bị mất ba đại tướng là Liễu Thăng, Lương Minh, Lý Khánh và hơn 3 vạn quân.
Số tàn quân do Thôi Tụ và Hoàng Phúc tổ chức lại, gượng gạo tiến về thành Xương Giang.
Đến gần Xương Giang, mới nghe tin thành bị hạ bởi tướng Trần Nguyên Hãn từ trước đó 10 ngày, bọn Thôi Tụ và Hoàng Phúc cả sợ, phải cho quân lính đắp lũy ở ngoài đồng tự vệ (vì trên thực tế cánh đồng Xương Giang là vùng đồng bằng trống trải, chỉ xen vào vài quả đồi thấp chạy sát ven sông -LKT). Thôi Tụ xin hòa, nhưng Bình Định Vương Lê Lợi không cho.
Cũng tại đây, một trận quyết chiến chiến lược đã được bố trí sẵn. Chỉ mở cho địch lối ra Xương Giang.
Mặt phía Bắc các cửa ải Pha Lũy, Chi Lăng và Bàng Quan (tức là ở Bắc Giang) đều bị quân ta khóa chặt, không cho địch có thể chạy thoát về Trung Quốc. Tướng Trần Nguyên Hãn được lệnh, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu, ngăn chặn mọi đường tiếp tế lương thực cho hơn 3 vạn quân địch đang bị khốn đốn ở Xương Giang.
- Mặt Nam, các tướng Trần Lựu trấn giữ ở thành Thị Cầu, cách Xương Giang 20 km về phía Nam, con đường về Đông Quan.
- Các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Lý, Lê Văn An sau trận Phố Cát (ngày 18/8) cũng từ phía Bắc rút về vây ép chặt.
“Ngày 3/11/1427 (ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi) cuộc tổng công kích mặt trận Xương Giang bắt đầu.
Sau những đợt tấn công quyết liệt, hơn 5 vạn tên địch bị diệt. Thôi Tụ, Hoàng Phúc, Sử An, Trần Dung và hơn 300 tướng lớn nhỏ bị bắt cùng 3 vạn quân của chúng”.
Sách “Hoàng Minh thực lục” ghi nhận chỉ có một tên chủ sự Phan Hậu trốn thoát về nước “Minh sử ký sự bản mạt” ghi 7 vạn quân bị diệt, chủ sự tên là Phan Nguyên Đại trốn về nước.
Lê Quý Đôn viết ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi (tức 31/11/1427) ta đã phá được đại quân giặc, chém hơn 5 vạn đầu, bắt sống được Thôi Tụ, Hoàng Phúc và quân hơn 3 vạn, lấy được tư trang, khí giới của giặc rất nhiều (1).
Sử “Toàn thư” cũng thừa nhận: “Ngày 15, quân Minh thua to, chém được hơn 5 vạn thủ cấp, bắt sống được bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc và 3 vạn quân giặc, cùng khí giới, ngựa, vàng, bạc, hàng lụa không kể xiết, còn những kẻ trốn được thì trong không đến 5 ngày, bọn chăn trâu, kiếm củi đều bắt được hết không sót người nào” (2).
Trong trận này, Thôi Tụ do không chịu khuất phục nên Bình Định Vương sai giết, mười vạn binh của Liễu Thăng bị tiêu diệt hoàn toàn. Toàn bộ quá trình diễn biến của mặt trận từ Chi Lăng về Xương Giang, sử nhà Minh thừa nhận: “...Quân phục nổi dậy (3) Thăng bị trúng lao chết, những kẻ tùy tùng đều bị chết sạch, buổi tối hôm ấy, Lương Minh chết, qua hôm sau Khánh cũng chết. Thôi Tụ sắp quân tề chỉnh, kéo quân xuống Xương Giang, gặp địch, bọn Tụ liều chết cố chiến đấu. Địch lùa voi trận ào ạt đến. Mặt trận rối loạn. Tụ bị bắt, địch dụ hàng, Tụ không chịu khuất, bèn bị giết” (1).
Viết về chiến công hiển hách này “Bình Ngô đại cáo” có những câu bất hủ:
“Thôi đô đốc quỳ gối phục tội
Hoàng thượng thư tay trói nộp thành
Lạng Sơn, Lạng Giang thây ngả đầy đường
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước”.
Tướng Trần Nguyên Hãn là người đã đóng góp vai trò tích cực để tạo nên chiến công đó.
Về việc này, câu đối thờ ở đền Thượng có vế ghi:
“Yên Sơn hữu thạch anh hùng kiếm”
(Có hòn đá núi Mã Yên bởi có lưỡi gươm của người anh hùng).

Các tin đã đưa ngày: