Phần III Những Vấn đề về Trần Nguyên Hãn Vai trò của Trần Nguyên Hãn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

27/07/2013

Trong tất cả các sử sách xưa, từ Ngô Sỹ Liên đến Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú và các tác giả của bộ “Việt sử thông giám cương mục” mỗi khi viết về Trần Nguyên Hãn đều thừa nhận: “Hãn, Hữu học thức tinh binh pháp”
Hữu học thức, bởi ông là người rất mưu lược, tinh binh pháp bởi vì ông làm quan tới chức Thái úy, đứng đầu hàng quan võ.
Vai trò mưu lược: Trong các công thần khai quốc của vua Lê Lợi thì Trần Nguyên Hãn luôn luôn là người có “Công lao và danh vọng thật cao tuột” (sử Cương mục), ông là người được “bàn mưu khởi binh” cũng tức là ông có đóng góp vào mục đích chính trị của cuộc khởi nghĩa. Mục đích chính trị ấy, ông đã “ấp ủ” trong suốt 11 năm chờ thời ở Sơn Đông từ năm 1407 - 1417.
Sau khi nhà Minh đặt được ách cai trị lên nước Đại Việt, biến nước Nam thành “Quận huyện Giao Chỉ” thì trên thực tế có hai sự kiện chính trị sôi động thời bấy giờ:
Một là việc tìm lập con cháu nhà Trần:
Năm 1400, Hồ Quý Ly chiếm được ngôi báu của nhà Trần. Năm 1406 Minh Thành Tổ đã khéo léo lợi dụng khẩu hiệu “Phù Trần diệt Hồ” chiếm được nước Nam nhanh chóng. Việc tìm lập con cháu nhà Trần là âm mưu chính trị lắt léo của nhà Minh qua từng thời kỳ, dưới những chiêu bài hết sức phức tạp:
- Để đánh vào lòng người, cô lập cha con Hồ Quý Ly, Minh Thành Tổ nêu vấn đề “Tìm lập con cháu nhà Trần”. Đó là việc năm 1406, tổ chức đưa tên Việt gian Trần Thiêm Bình mạo nhận con vua Trần về nước.
- Khi chiếm xong nước Nam, đặt quận huyện, Trương Phụ yết bảng “tìm bắt” con cháu nhà Trần (1).
- Khi Lê Lợi khởi nghĩa, nhà Minh lại thò ra chiêu bài “Tìm lập con cháu nhà Trần”. Chiêu bài này lắt léo khi ẩn, khi hiện khiến vua Lê Lợi phải ứng phó linh hoạt cho đến suốt thời kỳ lên ngôi Hoàng đế (1428 - 1433).
Trần Nguyên Hãn do vậy cũng phải có cách ứng phó rất mưu lược trước chính cuộc phức tạp đó. ông “ung dung” ở Sơn Đông, rồi đứng vững vàng trong bộ chỉ huy của nghĩa quân Lam Sơn, làm đến chức Tướng quốc. Nhưng cả vua Lê Lợi và vua Minh không hề lợi dụng được con người nhà Trần ở nơi ông. ông là con người yêu nước, cứu nước chân chính, không dễ hiến mình cho những mục đích khác nhau, không phải là “con bài” trong tay người sử dụng.
Hai là những cuộc khởi nghĩa của tôn thất nhà Trần nổ ra chấn động cả nước như:
- Tháng 10 năm Đinh Hợi (1407) Giản Định Vương Ngỗi (con thứ của vua Trần Nghệ Tông) khởi nghĩa ở Tràng An, tự xưng Giản Định Hoàng đế, đặt niên hiệu Hưng Khánh - hai bên tả hữu có Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân và Trần Triệu Cơ đem dân chúng theo, làm thành cuộc kháng chiến chống quân Minh rộng lớn.
- Trần Nguyệt Hồ nổi lên ở Bình Than, tháng 10 năm ấy xưng làm Chúa, tự gọi là “Quân Trung nghĩa”.
- Tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409) Trần Quý Khoáng, con Mẫn Vương Ngạc, cháu của vua Trần Nghệ Tông được Đặng Dung (con Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) lập làm hoàng đế ở Chi La (La Sơn - Hà Tĩnh) đổi niên hiệu là Trùng Quang - mãi đến tháng 12 năm Quý tỵ (1413) mới bị dập tắt.
Mặc dù, trong thời điểm không yên ổn cho quân Minh ấy, mọi mưu chước cũng không đủ sức lôi cuốn Trần Nguyên Hãn.
Chỉ đến khi Lê Lợi chiêu hiền đãi sĩ, ông mới từ Sơn Đông “một lòng ra đi”. ông hiểu biết Lê Lợi để tìm theo. Lê Lợi cũng biết ông, hiểu ông để “rất được trọng dụng, cho thường được dự bàn mưu kín” (Lê Quý Đôn, truyện Trần Nguyên Hãn trong Đại Việt thông sử).
Các chức quan cao cấp của từng thời kì mà Lê Lợi trao cho ông, là biểu hiện của sự kính trọng đối với Trần Nguyên Hãn.
- Quan Tư đồ, ngày mồng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (1418).
- Quan Thái úy, ngày 13 tháng 6 năm Đinh Mùi (1427).
- Tả Tướng quốc, ngày mồng 6 tháng 3 năm Mậu Thân (1428).
Trong 10 năm theo vua Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn ngoài cái tài tướng cầm quân giỏi, ông còn là người có tài trị quốc (Tướng quốc).
Vai trò quân sự: Trần Nguyên Hãn là người không những chỉ bàn mưu ở nơi màn trướng, ông còn là người thực hiện ngay cả những điều mình đã bàn. ông tham gia chiến trận, “Nam chinh, Bắc chiến” chỉ huy các trận đánh - cùng với quân sỹ xông pha nơi hòn tên, mũi đạn, thực sự là người “đa mưu, hữu dũng”.
- Chiến dịch Tân Bình, Thuận Hóa, ngầm phục quân ở chỗ hiểm Hà Khương.
- Trận tiến vây Đông Quan: chỉ huy hơn 100 chiến thuyền trong một đêm 23 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) đánh vào Bắc thành Đông Quan.
- Hạ thành Xương Giang đêm mồng 8 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427) trong vòng một giờ (tức 2 tiếng đồng hồ ngày nay).
- Tham gia chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang diệt đoàn tải lương của Liễu Thăng sau trận Chi Lăng năm Đinh Mùi.
Vì vậy vai trò chiến thuật quân sự của Trần Nguyên Hãn rất đáng được khâm phục “Theo đi trận mạc, đến đâu cũng lập được chiến công đến đấy” (1).
Thơ xưa ở đền Thượng có câu:
“Đãn giao Bắc Lỗ tàm vô địa”
(Đánh trận đầu, giặc Bắc không đường chạy).
ông nổi bật lên trong hàng các tướng và có uy tín tuyệt vời trong quân đội.
Những đánh giá công lao to lớn và vai trò của ông trong cuộc kháng chiến Lam Sơn xưa nay, đều thừa nhận có 4 người “Tứ phụ phù Lê” hoặc “Tứ trụ phù Lê”. Bốn người đó là: Lê Văn Linh (2), Nguyễn Chích, Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn. Trong đó, Lê Văn Linh và Nguyễn Trãi là Văn thần, Nguyễn Chích và Trần Nguyên Hãn là Võ tướng - võ tướng có mưu lược.

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: