Cuộc hội thề

27/07/2013

Sau chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn tiến hành vây gấp thành Đông Quan, gây sức ép buộc Vương Thông phải đầu hàng.
Trước hết, Vương đem toàn bộ văn thư, ấn tín và chiếc bài “Song Hổ phù” của Liễu Thăng báo cho Vương Thông được biết.
ở trong thành Đông Quan, Vương Thông run sợ “Vỡ mật”, ý định giả cầu hòa để chờ viện binh tan vỡ.
Cuộc hội thề ở phía Nam thành Đông Quan giữa hai bên đã được nhanh chóng tiến hành.
Cuộc hội thề hay “Hội Minh” là một chiến thắng lịch sử vô cùng vẻ vang của Đại Việt và cũng là một lối đầu hàng không điều kiện, một kết cục nhục nhã của quân Minh xâm lược. Bởi chiến tranh thời ấy, khi giao chiến, một bên cố giữ thành, một bên hạ thành, buộc chủ tướng đối phương phải ra hội thề ngay ở bên thành mà mình đã cố thủ, đó là một điều sỉ nhục theo quan niệm của các danh tướng. Tại hội thề này, Vương Thông buộc phải chịu nhục để giữ mạng sống, hủy hoại thanh danh của Minh triều.
Ngày 16 tháng 12 năm Đinh Mùi (1427), hai bên bắt đầu cùng đi đến phía Nam thành (1). “Đại Việt thông sử” chép ngày 22 tháng 11.
- Phái đoàn của nghĩa quân Lam Sơn gồm có: Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Lê Vấn, Lê Ngân, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả (2), Nguyễn Chích, Lê Văn An, Bế Khắc Thiệu, tổng số là 10 người, không có Nguyễn Trãi và Tư Mã Lê Sát.
- Phái đoàn quân Minh, do Thái tử Thái Bảo Thành Sơn hầu Vương Thông dẫn đầu cùng các tướng như sau:
1. Mã Anh: Tham tướng, hữu đô đốc.
2. Sơn Thọ: Thái Giám.
3. Mã Kỳ: Thái Giám.
4. Trần Trí: Vinh Xương bá.
5. Lý An: An Bình bá.
6. Phương Chính: Đô đốc.
7. Trần Tuấn: Chưởng đô ty sự, đô đốc thiêm sự.
8. Trần Hữu: Đô chỉ huy thiêm sự.
9. Chu Kỳ Hậu: Giám sát ngự sử.
10. Quách Vĩnh Thanh: Cấp sự trung.
11. Đào Khiêm: Hữu bố chính sứ.
12. Lục Quang Bình: Hữu tham chính.
13. Hồng Bỉnh Lương: Tả tham chính.
14. Lục Trinh: Tả tham chính.
15. Dương Thì Tập: án sát xứ.
16. Quách Đoan: Thiêm sự.
Bài văn hội thề có giá trị như một hiệp định rút quân mà về phía quân Minh, Vương Thông phải cam kết: “Đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng để đợi viện binh”.
Cuối cùng Vương Thông phải trịnh trọng tuyên thệ: “Nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề, không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viện binh, cùng là ngày về đến triều, lại không theo sự lý trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở An Nam bàn khác đi, hoặc cho quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì trời đất cùng danh sơn đại xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến người nhà, thân thích làm chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà”.
Trần Nguyên Hãn, với các chiến công lừng lẫy trong 10 năm có tài mưu lược, đến đây được Lê Lợi giành cho ông vinh quang trước cả nước và trước quân Minh, tên ông đứng hàng thứ hai, liền với tên vua “Nhất quốc đầu mục, Hãn danh tại đệ nhị thứ - ư thượng, kỳ kiến trọng như thử” (đủ để kính trọng như thế - Đại Việt thông sử). Cũng không thể quên rằng Trần Nguyên Hãn trong hội thề này, ngoài cương vị là vị tướng Tư đồ, là quan Thái úy của vua Lê, ông còn xứng danh là dòng dõi tôn thất nhà Trần.
Sau cuộc hội thề, bắt đầu đến cuộc rút quân của Vương Thông. Ngày 23 tháng 12 những tên giặc Minh đầu tiên đã vượt cầu phao, rời khỏi thành Đông Quan. Hẹn đến ngày mồng 3 tháng giêng năm Mậu Thân (1428) bất kể là ngày Tết Nguyên đán, công cuộc rút lui sẽ hoàn thành.
Lê Lợi tiến quân vào thành Đông Quan vừa giải phóng, bố cáo về việc dẹp giặc Ngô.
Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428) Lê Lợi đăng quang Hoàng đế.

Các tin đã đưa ngày: