Bối cảnh hình thành và tiến trình đổi mới của thị xã Phúc Yên

26/07/2013

Ngày 13/02/1897, Pôn-đu-me (Paul Doumer) - quan chức thực dân thứ 10 sang Đông Dương nhận trách nhiệm Toàn quyền.

Pôn-đu-me quyết tâm hoàn thành việc bình định xứ Bắc Kỳ. Mối lo ngại nhất của ông ta là nghĩa quân Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo. Cuộc đại tấn công nhằm đè bẹp nghĩa quân do đại tá Galiêni cầm đầu, đã thất bại thảm hại.

Dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở, vào sự ủng hộ của đồng bào địa phương, nghĩa quân đã di chuyển linh động trên một vùng rộng lớn, gồm 4 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên và Thái Nguyên.

Trong hoàn cảnh ấy, thực dân Pháp, đứng đầu là Đu-me thấy tình thế giằng co không lợi, nên chủ trương mở cuộc thương lượng với Đề Thám. Đầu tháng 12/1897, hai bên đình chiến. Đu-me chủ trương dụ hoà Đề Thám. Suy nghĩ của ông ta được ghi lại thành sách:

“Sự tồn tại của Đề Thám đến một lúc nào đó có thể gây cho chúng ta nhiều lo ngại. Đó là một thứ men gây ra các mầm phiến loạn”.

(Vị trí của Pháp ở Đông Dương - Pôn-đu-me)

Ngay từ đầu năm 1897, Toàn quyền Đu-me và Hội đồng phòng thủ Đông Dương do trung tướng Đốt (Đodds) cầm đầu, đã lo tổ chức trật tự an ninh toàn bộ 5 xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên. Phương pháp xáo trộn các địa phương có bạo loạn được đặt lên hàng đầu. Ngày 6/10/1901, chính quyền thực dân Pháp đem phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và một phần huyện Đông Khê (cắt khỏi tỉnh Bắc Ninh) hợp với huyện Yên Lãng (tách khỏi tỉnh Vĩnh Yên), lập ra tỉnh Phù Lỗ. Tỉnh lỵ đặt ở làng Phù Lỗ, huyện Kim Anh.

Ngày 10/12/1903, tỉnh lỵ chuyển lên làng Tháp Miếu, tổng Bạch Trữ, phủ Yên Lãng, đổi tên là tỉnh Phúc Yên.

Năm 1903, tỉnh Phúc Yên gồm:

- Phủ Đa Phúc, có 8 xã.
- Phủ Yên Lãng, có 18 xã.
- Huyện Đông Anh, có 10 xã.
- Huyện Kim Anh, có 10 xã.

Trong sách “Vị trí của Pháp ở Đông Dương”, Đu-me đã tỏ rõ mục đích thành lập tỉnh Phúc Yên cũng như các tỉnh khác của thực dân Pháp:

“Cơ cấu vững chắc của làng xã An Nam được hoàn toàn tôn trọng, và còn được bảo tồn triệt để, giúp cho việc cai trị sau này của chúng ta được dễ dàng. Trước mắt, chúng ta cần có vài ngàn tập thể tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, liên hệ với chúng ta theo từng khối, mà ta chỉ cần nắm lấy Hội đồng kỳ mục mà thôi. Tổ chức cộng hoà bé nhỏ, tự trị trong giới hạn những quyền lợi địa phương, bớt cho chính phủ phần lớn những khó khăn và công việc cần thiết... Chính phủ có thể muốn gì được nấy, bằng cách thoả thuận với đại biểu các làng, xã...”. Song âm mưu ấy, thực dân Pháp khó lòng thực hiện được ở Phúc Yên và nhiều tỉnh Bắc Kỳ.

Tháng 12 năm 1906, cụ Phan Bội Châu từ Nhật Bản về, được Đề Công giới thiệu vào yết kiến Hoàng Hoa Thám.

Tháng 6 năm 1908, nhóm quân cách mạng Trung Hoa do Lương Tú Xuân lãnh đạo, tràn sang hoạt động ở chợ Chu và vùng núi Tam Đảo. Giới cầm quyền địa phương hoảng hốt, gửi báo cáo tới tấp đến phủ Thống sứ Bắc Kỳ:

“Tôi tin chắc rằng có một sự liên minh chặt chẽ giữa những toán quân Trung Hoa và bọn phiến loạn An Nam. Tất cả đều đứng dưới cờ của Hoàng Hoa Thám...

...Đề Thám đã trở thành kẻ cầm cờ cho mọi phần tử phiến loạn và bất mãn theo sau”.

Ngày 24/9/1908, Cô-lô-buy-kốp-xki (Klobukowski), Viên Toàn quyền thứ 16 sang Việt Nam. Tình hình hoà hoãn không còn nữa. Phúc Yên luôn luôn trong tình trạng báo động. Từ năm 1907, suốt hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên cùng một phần tỉnh Bắc Ninh, có nhiều toán nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Đội Ca, Đội Nghĩa, Quản Tiêu, Hai Nôm, Cả Huỳnh, Ba Biều, Cai Sơn, Lãnh Thuận, Cả Rinh từ Yên Thế tràn sang, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.

Ngày 5/7/1909, giám thị công trường Voadanh và thầu khoán Lơ-roa (Leroy) bị bắt cóc ở Vệ Linh (Phù Lỗ). Nhiều cuộc chiến đấu diễn ra ở Hàm Lợn, một ngọn núi cao 462m ở sườn đông nam núi Tam Đảo.

Sốp-phơ-lê (Ccho Fflet) được Toàn quyền Đông Dương giao cho cả quyền hành chính và quân sự, làm thống lĩnh, chỉ huy giám binh Tua-rô (Thourot), Lăm-be (Lambert) và trung uý Búp phe (Bouffé) càn quét Lập Chí (20/7/1909), Xuân Lai (22/7/1909). Hiền Lương (25/7/1909). Địch chết 5 khố đỏ, bị thương 1 lính Pháp, 30 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu. Nghĩa quân rút khỏi Phúc Yên êm ru.

Trước tình hình đó, tổng đốc Hải Dương Lê Hoan được Hội đồng cơ mật chính phủ Nam Triều thoả hiệp với Toàn quyền Đông Dương, chỉ định tổ chức và thống lĩnh một đội quân gồm 400 lính khố vàng, phối hợp hoạt động với quân đội thực dân và các đơn vị khố xanh.

Lê Hoan được phong chức Khâm sai Đại thần, có đủ quyền hành cần thiết để tiễu trừ mau chóng phong trào Đề Thám ở Phúc Yên.

Như vậy là quyền hành của Sốp-phơ-lê ở Phúc Yên phải trao lại cho Khâm sai Lê Hoan. Nhưng chúng vẫn thống nhất chủ trương tấn công quân ta. Trận Bạch Đa, trận Thượng Yên mở ra, địch chỉ bắt được 1 xác chết của nghĩa quân trên thửa ruộng gần làng Nhân Tác. Chúng chặt đầu xác chết, đem bêu ở chợ Phúc Yên, để tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi.

Mâu thuẫn giữa Sốp-phơ-lê, công sứ Phúc Yên và Lê Hoan ngày càng sâu sắc. Để giải quyết tình trạng đó, đồng thời để thay thế 2 đội lính âu của Trung đoàn thuộc địa số 9, hai tháng liên tiếp hành quân ở Phúc Yên giữa mùa nóng, đã quá mệt mỏi, nên Tổng chỉ huy quân đội Đông Dương quyết định rút Sốp-phơ-lê cùng 2 đại đội thuộc Trung đoàn Thuộc địa số 9 về Sơn Tây. Thiếu tá Bô-ni-pha-xi, chỉ huy tiểu đoàn Bắc Kỳ số 1, quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang ở Phúc Yên, với nhiệm vụ tiếp tục càn quét.

Sáng 6/9, một nhóm nghĩa quân đột nhập làng Thái Lai, cách Phúc Yên 6km, phía tây sông Cà Lồ (Tiền Châu).

Bô-ni-pha-xi lợi dụng ưu thế về quân số, dàn quân bao vây Yên Lỗ (Bình Xuyên). Bộ binh địch tiến sát làng nên trọng pháo của chúng không sử dụng được. Nghĩa quân bắn trả lại rất dữ dội. Địch liều mạng xông đến cổng làng phía đông Bắc, dùng chất nổ phá cổng rồi tiến vào làng. Cuộc chiến đấu trong làng diễn ra gay go ác liệt. Địch tiến sát các tường luỹ và chiến hào. Nghĩa quân đốt cháy các nhà chung quanh để chặn địch. Hai bên đánh giáp lá cà. Trọng pháo trở nên vô dụng. Địch dùng bộc phá để phá công sự của nghĩa quân. Trời tối mịt, nghĩa quân rút qua ao lên Hương Canh, để lại 7 xác chết. Bên địch chết và bị thương 15 tên, trong đó có một quan Ba.

Sau trận Yên Lỗ ngày 6/9/1909, một bộ phận lực lượng, địch được nghỉ chiến đấu vì hành quân liên miên và tiêu hao. Nghĩa quân rút sang Vĩnh Yên, sát nhập với bộ phận chính do Đề Thám chỉ huy, lúc này ông đã lập căn cứ ở chân núi Lang, phía Bắc Vĩnh Yên, thuộc địa phận Lập Thạch.
Ngày 28/9, uỷ viên chính phủ thực dân là Phác-dát, cùng Lê Hoan và Bô ni pha xi họp bàn quyết định chuyển quân về Vĩnh Yên, còn sự trị an ở Phúc Yên giao cho các lực lượng khố xanh đảm nhiệm.

Trên văn bản thì tỉnh Phù Lỗ thành lập ngày 6/10/1901, đổi tên thành tỉnh Phúc Yên ngày 10/12/1903. Toàn quyền Bô-rô-ni (Broni) ký quyết định thành lập thị xã Phúc Yên ngày 30/10/1905.

Ngày 31/3/1923, Toàn quyền xứ Đông Dương thứ 27 là Bô-Doanh (Bau doin) lại ra Nghị định thành lập lại tỉnh Phúc Yên, gồm hai phủ Đa Phúc và phủ Yên Lãng, lẫy chữ Phúc của phủ Đa Phúc và chữ Yên của phủ Yên Lãng làm địa danh của tỉnh, gộp thêm hai huyện Kim Anh và Đông Anh vào Phúc Yên. Đây là tỉnh nhỏ nhất xứ Bắc Kỳ. Đường trục chính từ ga Phúc Yên tới nhà thờ thị xã, được đặt tên viên toàn quyền Đông Dương thứ 14 là Bơ-rô-ni (Broni), người đã ký Nghị định thành lập thị xã Phúc Yên.

Tính từ 31/8/1858, thực dân Pháp gây hấn ở cửa biển Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược đất nước ta, cho đến ngày 31/3/1923, toàn quyền Bô-Đoanh ra nghị định thành lập lại tỉnh Phúc Yên, đã phải mất 65 năm, thực dân Pháp mới đặt được trật tự trị an ở vùng đất này. 22 năm, Phúc Yên sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Từ tháng 8/1945 đến tháng 8/1954, có 4 năm dưới chính quyền cách mạng và 5 năm Pháp tạm chiếm. Ngày 3/8/1954, thị xã Phúc Yên được giải phóng, trở thành thủ phủ của tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1960, tỉnh lỵ Vĩnh Phúc chuyển lên Vĩnh Yên. Phúc Yên thành thị xã. Ngày 26/6/1976, Phúc Yên thành thị trấn, thuộc huyện Mê Linh.

Ngày 9/12/2003, Phúc Yên lại trở về địa vị thị xã, có các phường: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Xuân Hoà và Phúc Thắng, với 12.029, 55 ha diện tích tự nhiên và 82.730 nhân khẩu.

Thị xã Phúc Yên nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp đô thị tập trung của tỉnh Vĩnh Phúc. Kinh tế thị xã Phúc Yên tiếp tục tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu hút đầu tư trên địa bàn tiếp tục tăng. Thị xã tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thực hiện các đề án của UBND tỉnh về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, xây dựng được bản đồ tưới tiêu, hệ thống tưới tiêu, xây dựng quy hoạch vùng trồng trọt sản xuất hàng hoá tập trung.

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Những vẫn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết.

Thị xã Phúc Yên ngày nay không chỉ có đường Bơ-rô-ni, mang tên viên Toàn quyền ký quyết định thành lập tỉnh, không phải chỉ có phố Dốc Dinh, phố Văn Miếu, phố Chùa Thông, phố Thương Mại, phố Đề Lao, phố Nhà Thờ, phố Ga... mà đã có tới 53 đường và phố, có lưới điện quốc gia và nước máy, không phải chạy máy nổ, dùng nước hồ và nước giếng như xưa. Phúc Yên có nhiều dinh thự, công sở, nhà cao tầng, bệnh viện, trường học các cấp, siêu thị, chợ búa, sân bãi... hiện đại, xếp vào loại đô thị hạng 4.

Phúc Yên ngày nay tiếp tục mở rộng và phát triển công nghiệp, coi công nghiệp là nhân tố quan trọng hàng đầu của nền kinh tế thị xã; nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ; tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; tăng giá trị chăn nuôi thuỷ sản, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng cường các biện pháp hữu hiệu về nguồn thu; quản lý chặt chẽ các khoản chi, ưu tiên cho đầu tư phát triển.

Sau gần một thế kỷ gian khổ chiến đấu, lao động bền bỉ, tự thân vượt lên trong niềm vui và khí thế mới, Phúc Yên tự hào với những kết quả đạt được và càng thấy rõ hơn nhiệm vụ nặng nề của vùng trọng điểm kinh tế, trung tâm văn hoá xã hội của tỉnh.

Nhiệm vụ xây dựng Phúc Yên trở thành đô thị loại 3 vào năm 2010, thổi vào tâm hồn trí tuệ người dân thị xã một sức mạnh quyết thắng và một tinh thần nỗ lực phấn đấu mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, công bằng, dân chủ và văn minh.

Nguyễn Quý Đôn

 

Các tin đã đưa ngày: