Sự thay đổi địa lý hành chính và tên gọi đường, phố thị xã Phúc Yên

26/07/2013

Để củng cố địa bàn thống trị của mình, ngày 6/10/1901, chính quyền thực dân xâm lược Pháp ra Nghị định thành lập tỉnh Phù Lỗ gồm:

Huyện Yên Lãng (cắt từ tỉnh Vĩnh Yên sang); Phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và một phần huyện Đông Khê (cắt từ tỉnh Bắc Ninh sang).

Ngày 1/7/1902, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đặt thủ phủ của tỉnh Phù Lỗ tại làng Tiên Dược Thượng (thời điểm đó thuộc huyện Kim Anh).

Ngày 10/12/1903, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định huỷ bỏ Nghị định ngày 1/7/1902 (về việc đặt thủ phủ của tỉnh Phù Lỗ tại làng Tiên Dược Thượng), xác định lại thủ phủ của tỉnh Phù Lỗ đặt tại trung tâm làng Đạm Xuyên (huyện Yên Lãng).

Ngày 18/2/1904, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Phúc Yên. Địa bàn tỉnh Phúc Yên là tỉnh Phù Lỗ cũ.

Ngày 31/10/1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Phúc Yên, thủ phủ của tỉnh Phúc Yên, gồm đất đai của 3 làng Đạm Xuyên, Tháp Miếu và Tiền Châu (Yên Lãng).

Ngày 7/3/1913, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định xoá bỏ tỉnh Phúc Yên và chuyển thành Địa lý Phúc Yên trực thuộc tỉnh Vĩnh Yên.
Mười năm sau, ngày 31/3/1923, Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định lập lại tỉnh Phúc Yên, gồm 2 phủ Đa Phúc, Yên Lãng và 2 huyện Kim Anh, Đông Anh.

Trải qua 22 năm xây dựng và phát triển, đến trước Cách mạng tháng 8-1945, về đại thể thị xã Phúc Yên có 2 khu: khu công sở và khu dân cư, nằm hai bên đường trục chính từ chân đồi Toà sứ Pháp kéo dài theo hướng Bắc Nam ra đến ngã tư Quốc lộ số 2.

Khu công sở nằm bên phải đường trục chính lại chia đôi: khu Toà Sứ và các cơ quan trực thuộc như Sở Dây thép, Sở Cẩm, Nhà Đoan, Sở Lục Lộ, Sở Địa chính, Trại lính khố xanh kiến thiết trên một thế đất cao, tựa lưng vào đầm nước; khu cơ quan Nam triều (Tuần phủ, án sát) đặt ở đầu tỉnh, cách xa khu Toà sứ, gần khu dân cư.

Khu dân cư nằm trên thế đất thấp, bên trái đường trục chính gồm 3 khu: khu Đệ nhất (nội thị), khu Đệ nhị (từ nhà thờ Tin lành ra đường số 2), khu Đệ tam (từ Ngã ba Tế Bần ra đến ga Tháp Miếu). Gần khu Đệ nhất là làng Tháp Miếu; làng này vẫn trực thuộc tổng Bạch Trữ, không thuộc quyền quản lý hành chính của thị xã Phúc Yên.

Trong thị xã, đường trục chính được đặt tên viên Toàn quyền Đông Dương, người đã ký Nghị định thành lập thị xã Phúc Yên, một vài phố đặt tên theo địa danh (như Dốc Dinh), hầu hết mang tên các công trình mà các phố đó đi qua (như phố Văn Miếu, phố Chùa Thông, phố Nghĩa địa = rue de la cimetière, phố Đề lao = rue des prisons, phố Thương mại - rue du commerce...).

Từ tháng 8-1945 đến tháng 8-1954 (4 năm chính quyền cách mạng và 5 năm Pháp tạm chiếm Vĩnh Phúc), quy mô thị xã Phúc Yên cũng như sự phân chia các khu hành chính hay đường phố không có gì thay đổi lớn.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc (1954), các cơ quan đầu não tỉnh Vĩnh Phúc của ta đều chuyển về đóng ở Phúc Yên. Phúc Yên trở thành tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá của tỉnh Vĩnh Phúc. Phạm vi đô thị Phúc Yên mở rộng thành 5 khu A, B, C, D và khu Tháp Miếu.

Giữa năm 1960, thủ phủ tỉnh Vĩnh Phúc chuyển lên Vĩnh Yên. Vĩnh Yên trở thành tỉnh lỵ, Phúc Yên trở thành thị xã.

Từ đầu năm 1965, thi hành lệnh sơ tán phòng không chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một số dân nội thị Phúc Yên chuyển ra khu Hợp Tiến (ven đường Gốc Găng lên phía Nam Viêm) và khu Thanh Tước, hình thành dần hai khu hành chính mới.

Trong thời gian tỉnh Vĩnh Phúc hợp nhất với tỉnh Phú Thọ, thị xã Phúc Yên đã 5 lần thay đổi cấp bậc đô thị: ngày 26-6-1976 chuyển thành thị trấn Phúc Yên trực thuộc huyện Yên Lãng, ngày 5-7-1977, là thị trấn thuộc huyện Mê Linh, ngày 29-12-1978 vẫn nằm trong huyện Mê Linh nhưng sáp nhập vào thủ đô Hà Nội, ngày 16-10-1991 trở lại thuộc tỉnh Vĩnh Phú và bắt đầu từ ngày 1-1-1997 trở lại thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.

Cho dù là thị xã hay thị trấn, dù ở vị thế độc lập hay phụ thuộc, đơn vị hành chính Phúc Yên cũng luôn luôn phát triển năng động về mọi mặt.

Nói riêng về phạm vi quản lý hành chính, phạm vi đô thị, toàn thị trấn Phúc Yên đến năm 1996 đã được mở rộng ra thành 14 khu: A1, A2, A3, A4, A5, B, C, D, Thanh Tước, Hợp Tiến, bốn khu Thanh Miếu 1, 2, 3, 4.
Từ năm 1997 tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, thị trấn Phúc Yên phát triển ngày càng sôi động mạnh mẽ và được cơ cấu dần dần như một thị xã với 3 phường lớn:

Phường Trưng Trắc với các khu A4, A5, B, C, D. Đây là phường lớn nhất, bao gồm gần hết nội thị cũ, rộng 97, 6 hécta.

Phường Trưng Nhị với các khu Tháp Miếu 1, 2, 3, 4, toàn bộ khu Hợp Tiến, 3 tổ của khu D và 2 tổ của khu C.

Phường Hùng Vương với các khu A1, A2, A3, Thanh Tước, tổ 11 của xã Phúc Thắng, 2 làng Nhuế Khúc lớn, Nhuế Khúc con.

Ngày 9-12-2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 153/2003/NĐ-CP thành lập thị xã Phúc Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Phúc Yên, thị trấn Xuân Hoà và các xã Phúc Thắng, Tiền Châu, Nam Viêm, Cao Minh, Ngọc Thanh thuộc huyện Mê Linh cũ. Thị xã Phúc Yên trở thành đô thị loại 3 với 12.029, 55 ha diện tích tự nhiên và 82.730 nhân khẩu.

Sau khi tái lập, thị xã Phúc Yên được quy hoạch mở rộng thêm 2 phường: Xuân Hoà, Phúc Thắng. Cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, các tuyến đường được nâng cấp, một số tuyến mới được xây dựng. Do nhu cầu bức xúc của các cơ quan và đời sống sinh hoạt của nhân dân, năm 2005, UBND thị xã Phúc Yên đã tiến hành đặt, đổi tên cho 53 đường, phố.

Trong số 53 tên mới đặt, đổi có sử dụng các tên theo địa danh và danh nhân như sau:

9 địa danh gồm: 1 địa danh Trung ương (Điện Biên Phủ) và 8 địa danh địa phương (Xuân Thượng, Xuân Giao, Xuân Thuỷ, Xuân Biên, Đại Phùng, Phố Nội, Nhuế Khúc, Nhà Chung).

13 danh nhân gồm: 7 danh nhân Trung ương (Hùng Vương, Quang Trung, An Dương Vương, Trần Hưng Đạo, Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, Phạm Hồng Thái) và 6 danh nhân địa phương (Ngô Miễn, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám, Đỗ Nhân Tăng, Trần Công Tước, Trần Mỹ Cơ).
18 danh nhân cách mạng, kháng chiến: gồm 15 danh nhân Trung ương (Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Trỗi, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Võ Thị Sáu, Cù Chính Lan, Bế Văn Đàn, Kim Đồng, Lê Trọng Tấn, Tô Vĩnh Diện), 3 danh nhân địa phương (Lê Xoay, Kim Ngọc, Nguyễn Viết Xuân)

8 lãnh tụ Đảng: Nguyễn Tất Thành, Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh.

Ngoài ra còn có 5 đường phố sử dụng danh từ khẩu hiệu: Thống Nhất, Đồng Tâm, Thanh Niên, Hoà Bình, Hữu Nghị.

Nhìn chung, đợt đặt, đổi tên đường, phố này đã đáp ứng yêu cầu của cơ quan và nhân dân, góp phần thực hiện công tác quản lý đô thị, quản lý hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử - văn hoá dân tộc.

Nguyễn Xuân Lân

 

Các tin đã đưa ngày: