Bác Hồ làm cho cây cũng có tết có xuân

26/07/2013

Những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ trước, nước ta đang phải đấu tranh thống nhất tổ quốc. Bác Hồ bận trăm công nghìn việc mà Người vẫn nghĩ tới một nhiệm vụ lâu dài cho dân tộc đó là trồng cây. Chính ý tưởng cao đẹp ấy, Bác Hồ viết bài báo phát động Tết trồng cây để đón Tết Nguyên đán Canh Tý (1960) và lấy thành tích chào mừng Đảng 30 tuổi (03/02/1930 - 03/02/1960). Bài báo “Tết trồng cây” Bác Hồ viết trong ngôi nhà sàn ở thủ đô Hà Nội cũng là tết đầu tiên Người về ngôi nhà lịch sử này. Báo Nhân dân số 2.082 ngày 28/11/1959 tức ngày 28/10 năm Kỷ Hợi đăng trang trọng trên trang nhất bài báo này với bút danh Trần Lực. Từ đó đến giờ, nhờ có Bác Hồ mà Cây cũng có Tết có Xuân bởi nhân dân mọi miền, mọi cơ quan, mọi tổ chức xã hội đều có kế hoạch tổ chức Tết trồng cây để làm lợi nhà ích nước:
Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xanh.
Nội dung bài báo Tết trồng cây Bác Hồ viết như sau:
“Mấy lâu nay các xí nghiệp, công trường, cơ quan, trường học, đơn vị bộ đội, hợp tác xã nông nghiệp... đang thi đua sôi nổi để lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 tuổi.
Đó là một việc tốt. Một lần nữa, nó chứng tỏ rằng toàn dân ta yêu Đảng, tin cậy Đảng, quyết tâm theo sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây. Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều. ý kiến của chúng tôi tóm tắt là thế này:
Để kỷ niệm ngày thành lập Đảng, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt.
Miền Bắc ta có độ 14 triệu dân, trong số đó 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây.
Ngay từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ cho Tết trồng cây thí dụ Bộ Nông lâm, các Ty nông lâm và các đoàn thể cần phải ươm đủ cây giống. Uỷ ban hành chính các địa phương phải có kế hoạch trồng cây gì, trồng ở đâu...
Như vậy mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965 (là năm cuối cùng của kế hoạch năm năm lần thứ nhất), chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta.
Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng, đều có thể hăng hái tham gia”.
Văn hóa - Thể thao & Du lịch Vĩnh Phúc.


Tháng 10 năm 1938, Bác Hồ từ Liên Xô trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit -le tràn vào Pa -ri, và ngày 20/6/1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt - Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Trưa ngày 8/2/1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 - cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp - Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới giải đất Tổ quốc trùng điệp.
Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở Châu á, Châu âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa xuân Tân Tỵ 1941.
Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo Cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.


“Bác đã về đây, Tổ quốc ơi,
Nhớ thương hòn đất, ấm chân Người.
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ,
Mà đến bây giờ mới tới nơi!”
(Tố Hữu)
Nhớ buổi Bác về nước, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Nở trắng hoa kim anh trên biên giới, Bác về
Xa nước ba mươi năm, một câu Kiều, Người vẫn nhớ
Mái tóc bạc đã phai màu quá nửa
Lòng son ngời như buổi mới ra đi”.


Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va - li con, trong đựng một túi tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.
Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau ba mươi năm xa cách, lần đầu tiên vui xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về... Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”
(Tố Hữu)


Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và về sau vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác về Tân Trào (mùng 4 tháng 5 năm 1945).
Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt - Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.
Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê -nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”


Từ suối Lê -nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã toả rộng muôn nơi
Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

Nước mới quyết làm cho nước mới
Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa.

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động cách mạng bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước.
Năm 1961, Bác về thăm Pác Bó, nơi 20 năm trước, mùa Xuân 1941, Bác đặt chân lên mảnh đất địa đầu Tổ quốc. Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”.


Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác hoạ con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.
Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10/5/1941 đến 19/5/1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân năm 1941 là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ -ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (20/7/1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23/9/1945 đã kết thúc. Hoà bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước, cho dân tộc.
văn hóa - thể thao & du lịch vĩnh phúc
Văn phong của Hồ Chủ tịch thường cô đọng, hàm súc, lời ít, ý nhiều, ngôn từ giản dị, dễ hiểu. Nhưng muốn học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhận thức được lời dạy của Bác, không phải chỉ đọc qua lời dạy của Người mà đã lĩnh hội sâu sắc được ý tứ, nội dung ẩn chứa bên trong. Ngôn từ Bác viết hoặc nói đều chân phương, người đọc, người nghe đều mau chóng tiếp thu được. Song tiếp thu ở mức độ nào là do sự cố gắng đào sâu suy nghĩ của mỗi người. Trong di chúc của Hồ Chủ tịch, trước lúc đi xa, Bác đã căn dặn:
“Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”.
Trong câu nói này, Bác dùng hai lần điệp ngữ “thật sự” để nhấn mạnh hai điểm:
- Nhận thức vấn đề phải thấu đáo
- Hành động phải đúng đắn và cụ thể.
Không được lý thuyết suông, qua loa tắc trách. Lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, phải nêu gương sáng cho quần chúng noi theo.
Trước hết, ta cần hiểu thế nào là đạo đức cách mạng? Căn cứ vào lời dạy của Bác, nội dung đạo đức cách mạng biểu hiện ở sự thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào, sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau quần chúng, không ham giàu sang, không sợ oai quyền. Không ham, không sợ nghĩa là bất chấp mọi mua chuộc, cám dỗ, coi thường gian khổ hi sinh, thậm chí đem cả xương máu tính mạng để đổi lấy chân lý, giành lấy chính nghĩa, thì còn cái gì ngăn cản nổi bước chân ta tiến lên được?
Luôn luôn thẳng thắn, trong sáng, không có điều gì phải che giấu, không tìm cách “cờ đến tay ai, người ấy phất” để mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân, vợ con, anh em, họ hàng, tranh chiếm tài sản quốc gia. Lúc nào cũng tìm cách “hợp pháp hoá”, “chính thức hoá” những sự việc sai luật lệ, sai đường lối, tham lam, ích kỷ. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói, chống tư tưởng “ngậm miệng ăn tiền”, sợ người ta phê bình mình, giữ thói cũ “lòng vả cũng như lòng sung”, người ta “được” thì mình cũng được, người ta “chết” thì mình vẫn sống! Chính vì không tư túi, khuất tất, nên tâm hồn thanh thản, đầu óc trong sáng, ăn ngon, ngủ yên. Dù ăn cơm rau, cháo muối, ngủ giường gỗ, giường tre, đắp chăn vải, chăn sui nhưng không thon thót giật mình. Đối thoại rõ ràng, phân minh, không phải dối trá.
Không lươn lẹo, thủ đoạn, nên đọc lý luận dễ thông suốt, dễ xác định phương hướng. Biết xem người, biết xét việc, không hồ đồ. Tránh thói ưa nịnh bợ, tâng bốc, dùng thủ đoạn, đồng thời xa lánh được cung cách dèm pha, xuyên tạc, trù úm.
Chính vì quang minh chính đại, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, nên chẳng có gì mà phải lo lắng, quẩn quanh, bày mưu, tính kế, tham ô móc ngoặc.
Người không có đạo đức cách mạng, sớm muộn cũng bị nhân dân vạch mặt. Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại bị áp bức, mà bản thân mình đã xấu xa, đồi bại rồi thì còn làm nổi việc gì?
Phần khái quát như thế, đi vào chi tiết, Bác dạy: “Thật sự cần, kiệm, liêm, chính”. Vậy cần, kiệm, liêm, chính là như thế nào?
Cần có hai nghĩa. Cần là siêng năng, chăm chỉ, chịu khó và cần là cách tiếp xúc thân tình, cởi mở, gần gũi, chân thực với người đến gặp mình, hoặc mình đến gặp họ. Vậy cần có nghĩa là ân cần.
Các cụ bảo: “Cần hữu công, hí vô ích”. Câu này chỉ đúng một nửa. Siêng năng, chăm chỉ, chịu khó thì làm được việc, còn chơi bời thì chẳng có ích gì! Sự thật thì vẫn có thể “chơi mà học, học mà chơi”, hoặc “đi một bước đàng, học một sàng khôn” đó thôi! Làm tỉ mỉ, tốn công sức mà hiệu quả không cao thì sự cần ấy kém giá trị. ở đây, chữ “cần” nặng về ý nghĩa đạo đức:
“Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Có đâu đến kẻ say sưa tối ngày!”
Vào một cơ quan mà thấy cán bộ nhân viên bất cứ phòng ban nào cũng đang thi đua làm việc; tất nhiên người dân thêm tin tưởng, và chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ được thi hành khẩn trương, có hiệu quả, chống trì trệ bế tắc. Rõ ràng là mọi việc hành chính hay sự vụ đều được mọi người coi trọng, tích cực giải quyết kịp thời. “Cần cù” có thể bù “khả năng”. Ngược lại, có “khả năng” nhưng lại lười, công việc đắp đống cả lại, thì nhân dân trông cậy được nỗi gì? Việc công thì thiếu quan tâm, việc tư lại rất chu đáo. Bỏ cơ quan đi ăn cưới, đi đưa ma rất mực tình nghĩa, song không vào ngày nghỉ, như vậy là “bất cần”! Dân đến cơ quan dăm lần bảy lượt, không gặp được người cần gặp, tiếp dân mà mặt “lạnh như tiền”, nói năng gắt gỏng, cử chỉ khiếm nhã thì không phải là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tất nhiên đòi hỏi phải “ân cần” tất cả mọi trường hợp thì quá khó, nhưng “lịch sự”, đúng phép tắc, cũng được gọi là Cần.
Kiệm: Là tần tiện có tiết chế mà không phung phí. Có Cần mà không có Kiệm thì thu không đủ chi, “bóc ngắn, cắn dài”. Kiệm không phải là hà tiện, keo kiệt. Cái không đáng tiêu thì một xu cũng không tiêu. Cái phải chi dùng thì dù có tốn kém thì vẫn phải chi dùng, sao cho đúng mức, hợp lý. Thắp một ngọn đèn có thể làm việc được, thì nên tắt bớt các ngọn đèn khác. Ra khỏi phòng thì nên tắt điện. Các mẩu giấy thừa, Bác đều cất đi, dùng vào những lúc khác. Các đoạn bút chì ngắn, Bác cắm vào thân bút bi hỏng, thì lại viết được. ăn thừa thực phẩm. Uống thừa bia rượu rồi đổ đi là lãng phí. ăn đủ no, đủ dinh dưỡng thì thân thể tráng kiện, ít bệnh tật. Mặc đủ ấm, sạch sẽ, lịch sự là đạt tiêu chí, không cầu kỳ, nay mốt nọ, mai kiểu kia là xa hoa lãng phí. Tiết kiệm nhưng không bo bo ích kỷ, sẵn sàng sẻ cơm nhường áo cho những người cơ nhỡ. Tiết kiệm không chỉ ở mặt của cải mà còn ở mặt công sức, thời gian, trí tuệ. Đi muộn, về sớm, năng suất, hiệu quả công tác kém là không tiết kiệm. Nay liên hoan, mai yến tiệc; đồ dùng chưa hỏng đã thay, chưa cũ đã vứt bỏ, chú trọng hình thức thiếu sâu sát đến nội dung cũng là lãng phí. Sản xuất nhanh, nhiều nhưng không dùng được, sản phẩm chóng hỏng, thậm chí gây tai nạn là lãng phí của cải và sinh mệnh. Thích những thứ phù phiếm, gây tốn kém, hào hứng trong phút giây mà chẳng hiệu quả gì, như đốt vàng mã, đồng cốt quàng xiên, cúng lễ linh tinh, hại đến tâm linh, sức khỏe và điều kiện sinh hoạt.
Người biết tiết kiệm thì không gây xa hoa lãng phí cho người khác, thậm chí không dẫn tới vi phạm pháp luật, như “biến đồi hoang thành đồi trọc”, “ruộng hai mùa thành bãi cỏ râm”, “vật liệu loại A thành của phế thải”, thanh lý rẻ tiền. Cho nên, “tiết kiệm” cũng phải coi là quốc sách, giữ thăng bằng cho cán cân chi thu, góp phần chống lạm phát, bình ổn thị trường. Mỗi người đều biết tiết kiệm, thì trật tự kỷ cương, an ninh xã hội được tôn trọng. Các khẩu hiệu “yêu xe như con, quý xăng như máu”, “mỗi viên đạn là một quân thù”, thậm chí “một tên lửa bắn rơi hai máy bay Mỹ” đều là biểu hiện của tinh thần tiết kiệm, thi đua yêu nước.
Liêm là trong sạch, không tham danh, tham lợi, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ có tư tưởng, hành động mờ ám. Dù những lúc chỉ có một thân, một mình, không ai biết, không ai thấy, vẫn giữ được phẩm chất cao quý, trong sáng. Người liêm khiết thì của phi nghĩa không bao giờ để mắt tới, không phải của mình hoặc công sức mình làm ra thì không nhận. Người có đức liêm chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
“Làm láo, báo cáo hay” là không liêm. Cái không đáng hưởng mà cũng hưởng là man trá. Người dân thường đã biết giữ đức Liêm, không trộm cắp, gian lận, lấy của người. Vậy thì người làm quan càng phải giữ đức liêm hơn. Có giữ được đức liêm thì sự việc mới không méo mó, không thể trắng hoá đen, sai thành đúng, dở hoá hay.
Cho nên, liêm là gốc của sự công bằng, phẩm chất cao quý của người nắm chức quyền. Nhờ liêm mà có sức mạnh, mọi người tin tưởng lẫn nhau, đoàn kết vượt mọi gian khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhau.
Chính là ngay thẳng, đúng đắn, lời nói và việc làm đi đôi với nhau. Đối lập với Chính là Tà, gian tham, quỷ quyệt, tráo trở, lá mặt lá trái.
Người cách mạng chân chính, theo như Bác Hồ dạy bảo phải là người:
1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong, chân ngoài.
3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết; Biết đem lợi ích riêng, lợi ích cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.
4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ cương của Đảng.
5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.
Người có đức chính luôn luôn ngay thẳng, không làm việc bậy, không có việc gì khuất tất, mờ ám. Ngoài lợi ích của dân tộc, của đất nước, không có lợi ích riêng phải lo toan. Bất kỳ nhiệm vụ nào của dân, của nước giao cho, bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận, không so đo, tính toán hơn thiệt.
Người cách mạng chân chính luôn luôn nâng cao tinh thần phụ trách, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Họ thật thà ngay thẳng, không giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Họ khiêm tốn, gần gũi quần chúng, thực sự cầu thị, không bao giờ kiêu ngạo, “lên mặt” với địa vị, sự cống hiến khi trước của mình. Việc tổ chức CLB của họ là để ôn lại chuyện cũ, lấy gương sáng dạy dỗ con cháu, và động viên mình sống sao cho xứng đáng với những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Những người chăm chỉ làm việc, không ham khoe khoang, ăn ngay nói thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó. Vô luận hoàn cảnh thế nào, họ cũng không thay lòng đổi dạ. Những người như thế, dù có yếu về năng lực chuyên môn một chút sau sẽ phấn đấu vươn lên, vẫn là cán bộ tốt. Kẻ nào hay nịnh nọt, đón ý thủ trưởng, dèm pha bạn mình; rủ rê, gợi ý, dẫn lối cho cấp trên nhậu nhẹt say sưa, kẻ ấy nhất định là phường bất chính.
Chí công vô tư: Khái niệm này có thể giải nghĩa từng từ như: Chí là đến nơi, đến chốn, hàm ý rất mực, hết sức; Công là việc chung, việc của dân, của nước; Vô là vô không, là chẳng có gì; Tư là lợi ích riêng, tính toán riêng, suy nghĩ riêng. Cả nhóm từ “Chí công vô tư” có hai vế “Chí công” và “Vô tư”, hai vế bổ sung cho nhau, trên hai mặt đối lập, song thống nhất một nội dung: Phẩm chất đạo đức cách mạng. Người “chí công vô tư” mang đặc thù “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không đòi hỏi “sòng phẳng”, “công bằng” cho bản thân mình, lúc nào cũng “thiệt thòi” vì nhường nhịn lợi ích cho người khác. Bác Hồ đã dạy rằng:
“Sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
Chí công vô tư giúp cho người ta có sự độ lượng, không thành kiến, luôn cởi mở gần gũi với cả những người mình không ưa; nâng đỡ, chỉ dẫn, giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ.
Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây mối bất hoà trong nội bộ. Bởi vậy, phải đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc, quyết tâm làm gương về mặt siêng năng, chăm chỉ, tiết kiệm, trong sạch, giữ thái độ công bằng, thân ái, đoàn kết, gương mẫu.
Tất nhiên, thực hiện được điều này không phải dễ và cần phải tránh cứng nhắc, giáo điều, lý luận khô khan, nặng về lý sự mà không hợp tình người.
Trong 79 mùa xuân, tuỳ từng ngành, từng đoàn thể, từng sự việc, từng giai đoạn cách mạng, Bác Hồ với cương vị của một lãnh tụ, đồng thời còn là cha, là bác, là anh của nhiều thế hệ đã dạy dỗ chúng ta đủ mọi điều. Câu nói của Bác vừa là chân lý, lại vừa là ân tình. Những lời dạy của Bác được lưu giữ lại, cho đến thế kỷ này vẫn luôn luôn mới, luôn luôn thích hợp với thực tế, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng, làm sao cho lòng chúng ta trong sáng hơn, làm được nhiều việc có ích hơn. Lời Bác dạy thì nhiều, đều như “kim chỉ nam” hướng dẫn, soi sáng cho suy nghĩ và hành động của chúng ta. Người trích bài này mới trích một câu Bác nói, mà nghiên cứu, tìm hiểu vẫn tự thấy là chưa thấu đáo, chưa hết nhẽ, chưa rành mạch, ý nọ, ý kia còn lộn xộn. Song trong tâm thức cũng tự thấy bằng lòng vì mình đã làm được một việc có ý nghĩa, “biết đến đâu, tâu đến đấy” để mọi người cùng đọc, cùng tham khảo, thấm nhuần lời Bác dạy.
Lạc Trung là một thôn của xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong kháng chiến chống Pháp, Bình Dương là một xã nổi tiếng về chiến tranh du kích, đánh địch, giữ làng. Vì thế, trong những năm bị thực dân Pháp kìm kẹp, Bình Dương là một trong những xã bị địch tàn phá nặng nề nhất. Hàng trăm ngôi nhà bị đốt, ruộng vườn bị phá, cây cối bị xe tăng, đại bác của địch quần nát. Cả xã hoang tàn như sa mạc.
Hòa bình lập lại, nhân dân Bình Dương đã khôi phục lại cuộc sống trên đống tro tàn, đổ nát. Là nông dân, ai cũng hiểu giá trị của màu xanh cây cối trên đường làng, ngõ xóm, trong vườn tược và màu xanh của đồng ruộng.
Sau những tháng ngày khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, Bình Dương khắc phục dần những tổn thất do địch gây ra trong chiến tranh. Từ năm 1958- 1960, Bình Dương đã hoàn thành tập thể hóa nông nghiệp với 100% hộ nông dân vào làm ăn tập thể trong HTX nông nghiệp. Thôn Lạc Trung đã hoàn thành việc xây dựng HTX nông nghiệp bậc thấp và có phong trào trồng cây khá của xã. Từ phong trào của thôn, Lạc Trung trở thành một điển hình về trồng cây của xã, rồi của huyện, của tỉnh và cả miền Bắc.
Năm 1961, là năm thứ hai thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch về trồng cây gây rừng, thôn Lạc Trung đã đạt kết quả rất lớn. Từ bình quân chung toàn huyện 2 cây một người năm 1960, Lạc Trung đã đạt con số 10 cây một người. Với thành tích như vậy, Lạc Trung đã nổi tiếng toàn miền Bắc. Thật bất ngờ, nhưng thật xứng đáng, Lạc Trung được đón Bác Hồ về thăm ngày 25/1/1961.
Sáng hôm ấy, trời giá rét, Bác về Lạc Trung thăm động viên phong trào. Cùng đi với Người có đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy. Trước khi nói chuyện với cán bộ, nhân dân Lạc Trung và Bình Dương, Bác đi thăm vườn ươm cây của HTX, thăm một số nhà dân, đi dưới những tán cây của đường làng, rồi ra cánh đồng có những hàng cây trồng trên bờ ruộng, ven kênh mương.
Nói chuyện với nhân dân, Bác khen ngợi Lạc Trung nói riêng, Bình Dương nói chung, nhưng cũng nhắc nhở, phê bình các nơi khác trong huyện Vĩnh Tường và tỉnh Vĩnh Phúc chưa trồng cây được như Lạc Trung. Bác nhấn mạnh trồng cây phải trở thành phong trào quần chúng rộng lớn mới có hiệu quả. Bác nói: một người trồng được 1.000 cây không bằng nhân dân cả xã mỗi người trồng 10 cây.
Năm 1961, cả miền Bắc đang bắt đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965) mà nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH. Đối với nhân dân nói chung, nông dân nói riêng thời kỳ này nhận thức lý luận còn rất hạn chế, để hiểu rõ về CNXH còn là khó khăn rất lớn. Vì thế, về Lạc Trung nói chuyện với nông dân, Bác giải thích thật mộc mạc, “CNXH là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ”. Thật là đơn giản. CNXH không có gì cao siêu cả, vì thế nhân dân ta mới hiểu được con đường để đi tới.
Bác quy những điều phức tạp trở nên đơn giản và thật lô gíc. Bác nói: “muốn làm nhà thì phải có gỗ. Muốn có gỗ thì phải hăng hái trồng cây...”. Có lẽ phong trào trồng cây ở Lạc Trung gây “ấn tượng” tốt với Bác, nên Người rất chú ý đến Lạc Trung, Người muốn từ Lạc Trung phải nhân rộng ra toàn miền Bắc. Bởi vậy, sau 3 ngày về thăm Lạc Trung, Bác viết một bài đăng báo Nhân dân số 2506, ngày 28/1/1961, bài báo có đoạn: “Thôn Lạc Trung (tỉnh Vĩnh Phúc) hồi kháng chiến bị giặc Pháp đốt sạch, không còn một gốc cây nào. Từ ngày có tết trồng cây, HTX Lạc Trung đã có sáng kiến làm như sau:
- Khuyến khích xã viên trồng, đồng thời HTX chỉ định một tổ 3 xã viên phụ trách trồng và săn sóc cây. Nhờ vậy mà hiện nay, hơn 6.000 cây trong thôn đều xanh tốt.
- Khéo “Lấy ngắn nuôi dài” tức là trồng cây xen kẽ chuối và muồng giữa những hàng cây xoan. Thành thử, mỗi năm đều có thu hoạch chuối để bán, muồng để ủ phân...
- Năm trước ươm giống, để năm sau trồng.
Nhờ trồng cây có kế hoạch, mà từ một thôn trơ trọi, chỉ trong vài năm Lạc Trung đã trở nên xanh tươi nhất trong cả huyện Vĩnh Tường”.
Đến ngày 30/12/1961, trên số 2839, Báo Nhân dân, Bác lại viết: “Lạc Trung (trong kháng chiến bị giặc Pháp đốt trụi) đã trồng được hơn 4 vạn cây. Làng xóm trở nên xanh tốt, lại đã thu được hơn 1.000 đồng, nay Lạc Trung đã hợp nhất với hai HTX Hà Phú và Hà Trì thành HTX Hồng Phong đã trồng được gần 94.000 cây, bình quân mỗi người 52 cây.
Vì sao họ đạt được thành tích tốt? Vì cá nhân thì chăm chỉ và chuyên cần, họ bền chí như ông già rời núi, tập thể họ biết cách làm. Họ cử những cụ già hăng hái lập thành những tổ chuyên trách trồng cây, các xã viên đều tùy khả năng mà giúp sức, các em nhi đồng thì có những đội bảo vệ cây cối. Họ thực hiện khẩu hiệu “Yêu cây như yêu con”. Đó là nguyên nhân thắng lợi của họ...”.
Rất hiếm có một nơi nào mà Bác vừa đến tận nơi thăm động viên, rồi lại viết báo Đảng để tuyên truyền “kinh nghiệm”, nhân lên thành điển hình tiên tiến. Lạc Trung coi đó là một hạnh phúc to lớn. Như để không phụ lòng Bác, từ phong trào trồng cây, Lạc Trung đã được Đảng, Nhà nước phong 1 Anh hùng lao động, đó là cụ Võ Văn Tần, một cán bộ miền Nam tập kết về sống tại xã Bình Dương. ở thôn Lạc Trung hồi đó có một tổ trồng cây 5 người, có một người là thương binh chống Pháp hạng 3/4 làm tổ trưởng trồng cây, lập nhiều thành tích xuất sắc, được bầu kiện tướng và chiến sỹ thi đua trồng cây 3 năm liền (1960-1962), được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng 2 Huân chương Lao động hạng 3. Đó là cụ Lê Văn Bốn.
Những tình cảm mà Bác đã ưu ái dành cho Lạc Trung ngày ấy, thực sự là những phần thưởng cao quý. Từ sau ngày Bác về thăm, cán bộ, đảng viên và nhân dân Lạc Trung nói riêng, xã Bình Dương nói chung đã thực hiện tốt lời dạy của Bác, đạt thành tích xuất sắc không chỉ về trồng cây, mà trở thành một đơn vị điển hình về nhiều mặt của huyện Vĩnh Tường và của cả tỉnh Vĩnh Phúc.
Những ngày cuối năm Canh Dần cách đây gần tròn 60 năm (1950) trời đất hình như cũng hoan hỉ chia sẻ niềm vui với nhân dân Vĩnh Yên - Phúc Yên - Thái Nguyên - Tuyên Quang. Mặt trời hiện lên, rạng rỡ sáng láng khắp nơi. Chiến thắng Trung du ngay sau chiến thắng Biên Giới đã đem lại biết bao niềm vui, hạnh phúc cho quân và dân Trung du. Chiến dịch Trung du vừa kết thúc, Bộ Tổng tư lệnh của ta đã báo cho Bộ Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp phải cử đại diện lên Thái Nguyên để nhận thương binh do ta trao trả. Máy bay Pháp được lệnh ngừng bắn trong suốt thời gian ta trao trả thương binh. Chính vì thế những ngày cuối năm Canh Dần, đầu xuân Tân Mão nhân dân Trung du lại được ăn tết yên lành, ăn tết to hơn cả những tết các năm chống Pháp. Cờ đỏ bay khắp các thôn xóm, đường phố Thái Nguyên các bản trại chung quanh chân núi Tam Đảo, cây nêu, câu đối đỏ, lá bánh xanh những ngày sống thanh bình nhộn nhịp lại tưng bừng với tất cả mọi người dân Lương cũng như Giáo, Kinh cũng như dân tộc ít người. Mọi gia đình đều đem chăn áo ra sân phơi. Hối hả bảo nhau đi bắt gà vịt lợn bò trâu... giấu trong rừng sâu tận chân núi Mỏ Quạ - Tam Đảo về để khao quân, mừng quân dân ta vừa đánh lớn thắng to suốt hai đợt của chiến dịch. Đây là lần đầu tiên Đại đoàn 308 tung quân ra trong một đêm cùng tiến công một loạt cứ điểm với một chiến thuật mới mẻ, chiến thuật “bôn tập”. Tiểu đoàn 18 của Trung đoàn thủ đô được trao nhiệm vụ nặng nhất: Tiêu diệt đồn Tư Tạo (Phúc Yên) vị trí chỉ huy một tiểu khu của địch. Còn các tiểu đoàn khác: tiểu đoàn 54 có nhiệm vụ bao vây địch ở ấp Cà Phê. Tại đây có một đại đội lính da đen khá hung dữ. Tiểu đoàn 322 Trung đoàn 88 tiến công đồn Hữu Bằng (Bình Xuyên) và tiểu đoàn 89 có trách nhiệm tiến đánh cứ điểm Thá.
Đêm thứ hai (28/12/1950) của đợt 1 chiến dịch, Trung đoàn 88 thuộc Đại đoàn 308 được lệnh tiến công đồn Thằn Lằn ở phía Bắc cách thị xã Phúc Yên 5km đường chim bay. So với Tú Tạo, Thằn Lằn có phần rắn hơn vì nó ở trên núi Thằn Lằn cao 124m, lại ở giữa vùng đồng bằng Đại Lải bốn bề rất trống trải. Quân số đóng trong đồn gồm 2 trung đội âu Phi cùng đại đội bộ được các đơn vị pháo binh chung quanh đồn chi viện đắc lực khi bị tiến công.
Trung đoàn 88 đã sử dụng tiểu đoàn mạnh nhất của mình - tiểu đoàn 29 trong trận này. Tỉ mỉ, chu đáo đó là đặc điểm của Trung đoàn 88. Ngoài ra Trung đoàn còn nổi tiếng kiên cường, tác phong chiến đấu rất quả cảm, gan góc của toàn thể đơn vị. Trung đoàn trưởng Thái Dũng đã chuẩn bị hai phương án tác chiến khá tỉ mỉ, sáng tạo: Đánh có pháo và không có pháo, đánh có bộc phá và không có bộc phá. Trung đoàn 88 vốn sẵn có truyền thống quyết chiến quyết thắng, đạp bằng mọi khó khăn tiến lên tiêu diệt đồn Thằn Lằn đêm nay.
Cũng trong đêm đông giá lạnh cuối năm Canh Dần 1950 các đội vũ trang tuyên truyền, các đại đội bộ đội địa phương đã cùng Tiểu đoàn 89 của Đại đoàn 308 thấm sâu vào vùng sau lưng địch: Hương Canh, thị xã Vĩnh Yên. Họ đi trước để chuẩn bị cho Đại quân tiến vào đánh lớn đợt hai chiến dịch. Ai nấy đều hiểu rằng: Chiến dịch mở ở đây với kết quả đánh lớn, với vũ khí chiến lợi phẩm mà Đại đoàn quân tiên phong mới trao tặng, với kinh nghiệm chiến đấu tiếp thu được, Vĩnh Phúc - Trung du sẽ có nhiều thuận lợi hơn để phát triển cuộc đấu tranh với địch, đồng thời cán bộ và nhân dân cũng rất tự hào vì họ đã góp phần không nhỏ vào những chiến thắng của bộ đội chủ lực, họ đã cùng bộ đội chủ lực tiêu diệt đồn lính âu Phi của địch, họ càng phấn khởi quán triệt trên thực tế chỉ thị củng cố phát triển bộ đội địa phương, dân quân du kích của Đảng và Bộ Tổng tư lệnh. Có thể coi đây là trang sử mới của Vĩnh Phúc và Trung du.
Đêm ngày 13/01/1951 sau hơn 10 ngày nghỉ ngơi rút kinh nghiệm đánh đồn, các đơn vị lại dồn dập xuất kích thành từng mũi từng mũi từ chân dãy núi Tam Đảo tiến ra vùng đồi trọc, làng mạc lưa thưa nằm giữa hai con đường từ Vĩnh Yên đi Ba Huyên (đường đất) và một đường từ Vĩnh Yên lên thị trấn nghỉ mát trên núi Tam Đảo, tuy giữ hết sức bí mật nhưng các cán bộ và chiến sĩ ta rất phấn khởi vững tâm chiến đấu vì tổng hành dinh của Đại tướng tổng chỉ huy chiến dịch đặt ngay trên đầu các mỏm núi có các đài quan sát tiền tiêu theo dõi toàn bộ trận địa giữa ta và địch từ Phúc Yên lên Vĩnh Yên.
Trận địa phục kích diệt viện đã được Bộ tư lệnh đại đoàn quyết định chọn trên con đường từ Vĩnh Yên đi Ba Huyên. Địa hình vùng này khá trống trải. Con đường từ Ba Huyên chạy về ngã ba Đông Đạo (cách thị xã Vĩnh Yên 3km) nằm lọt giữa một cánh đồng hẹp, dài và trũng, hai bên cánh đồng ấy là hai triền đồi, những đồi ấy lại không cao đều nhau. Trung đoàn 36 được trao nhiệm vụ đánh chặn đầu quân địch ở dẫy đồi Cẩm Trạch, cách Ba Huyên 6km. Trung đoàn 88 được trao nhiệm vụ bọc hậu và đánh xuyên ngang vào đội hình quân thù. Quyết chiến điểm của Trung đoàn 88 ở vào vùng Thanh Vân - Đạo Tú. Trung đoàn Sông Lô của đại đoàn 312 có nhiệm vụ phối hợp làm một mũi chiến đấu. Riêng trung đoàn thủ đô làm nhiệm vụ dự bị cho đại đoàn, bố trí trên đường Vĩnh Yên - Tam Đảo.
01 giờ ngày 14/01/1951 bộc phá, đại bác từ phía Ba Huyên vọng lên, mở màn đợt hai chiến dịch. Như trận Đông Khê ở chiến dịch Biên Giới, Ba Huyên ở chiến dịch Trung du được vận dụng phương châm đánh điểm diệt viện. Trong lúc này Tiểu đoàn 89 (Đại đoàn 308) đã vọt sang tận Hương Canh, phía đông thị xã Vĩnh Yên, phối hợp với địa phương quân và du kích hoạt động, đánh địch ở đó để cho đại quân ta vào chiếm lĩnh trận địa được an toàn bí mật.
Trong tập Ký sự Đại đoàn quân tiên phong (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Hà Nội 1978), các tác giả đã ghi lại những chiến công lừng lẫy của các Trung đoàn chủ lực của hai Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 trong trận tiêu diệt binh đoàn cơ động số 3 của Tướng Đờ Lattre từ Vĩnh Yên lên cứu nguy cho đồn Ba Huyên (Vĩnh Yên).
Nhận được tin tiểu đoàn Mường rơi vào trận địa phục kích của quân ta, viên quan Năm Va - nuy - xem (Vanuxem) lập tức phóng ngay hai tiểu đoàn âu Phi lên. Một bộ phận của hai tiểu đoàn âu Phi được chuyên chở bằng xe cơ giới. Một bộ phận đi bộ. Tiểu đoàn Mường cuối cùng của binh đoàn được lệnh hình thành gọng kìm theo hướng Đông Nam, nhằm thọc vào sau trận tuyến của quân ta.
Khi tất cả binh đoàn con cưng của Đờ Lattre ấy lên đường, đại bác từ Vĩnh Yên bắt đầu bắn dọn đường và tám chiếc máy bay khu trục cùng hai chiếc thám thính cũng từ Hà Nội bay lên phối hợp chiến đấu.
Trên các đài quan sát đặt liên tiếp từ trên Tổng hành dinh chỉ huy mặt trận ở khu nghỉ mát Tam Đảo đến các đài của đại đoàn và các Trung đoàn đều theo dõi không sót một hành động nào của quân địch trên những mỏm đồi vùng Nhân Mỹ, Thanh Vân, Đạo Tú... Dưới mặt đường đoàn cơ giới cũng ầm ầm xuất hiện với những chiếc xe bọc sắt GMC đồ sộ. Tiếng xe dưới đường hoà với tiếng máy bay trên trời, tiếng súng cối, đại bác làm cho tất cả không gian rung lên, xáo trộn trong những âm thanh làm đinh tai nhức óc.
Tiếng súng bên Tiểu đoàn 84 (E36) bắt đầu nổ xé. Cả đoàn quân địch giống hệt một con giun, đột nhiên bị giẫm vào đầu quằn mình lên một cách đau đớn, có tới 100 tên địch đang cuống cuồng chạy xô lên dãy đồi Cẩm Trạch. Lập tức ở cánh tả Trung đoàn, Tiểu đoàn 80 xuất kích phối hợp chặt chẽ với Tiểu đoàn 84 xung phong lên khắp mặt đồi Cẩm Trạch, cắt đứt tiểu đoàn Mường địch ra thành nhiều đoạn và tất cả những đoạn ấy đang tan ra như bầy kiến chạy toán loạn dưới những mồi lửa đang thiêu đốt.
Bốn chiếc kinh cô bra xuất hiện. Những loạt đạn nổ vang trên không trung, những trái bom nổ làm rung chuyển các sườn đồi. Những cuộc tiến công của quân ta lại càng phấn kích, bọn địch càng kinh hoàng tháo chạy tràn qua cánh đồng xuống phía nam đường. Các chiến sĩ chia thành từng tốp năm, tốp ba nhiều lắm là một tiểu đội tự chỉ huy bám riết lấy từng bộ phận địch đuổi bắt lấy hết.
Trong lúc Trung đoàn 36 truy diệt tiểu đoàn Mường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 cũng đã tận mắt thấy những đoàn xe và những toán quân bộ đang tiến lại. Chuông điện thoại reo lên, tiếng Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ sang sảng:
Anh Thái Dũng đâu? Chuẩn bị. đại bộ phận binh đoàn địch sắp vào quyết chiến điểm của chúng ta đấy.
Rõ!
Vừa lúc đó, tất cả những tiếng cơ giới, máy bay ầm ầm rung chuyển trận địa làm cho các đồng chí chỉ huy của chúng ta phải quát vào máy để ra lệnh cho quân ta xuất kích. Các Tiểu đoàn của Trung đoàn 88 cùng đồng loạt vọt ra khỏi các vị trí giấu quân. Tiếng reo xung phong vang lên trên khắp trận tuyến dài 4km, y như một làn sóng khổng lồ bất thần cuốn lên khỏi mặt đất, rồi cứ thế vừa gầm thét vừa tràn tới các ngọn đồi với một sức mạnh không gì ngăn nổi.
Tiểu đoàn 322 vừa đánh vào đoạn cuối của tiểu đoàn Mường đang bị Trung đoàn 36 băm nát, vừa tấn ra tiến công vào đoạn đầu của Tiểu đoàn âu Phi số 1 của Vanuxen thì Tiểu đoàn 29 Tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 88 quật thẳng vào chính giữa đội hình của binh đoàn giặc.
Trung đoàn trưởng Thái Dũng cùng đi với Tiểu đoàn 29 ra lệnh cho một đại đội vòng về xóm Giấm để bảo vệ Sở chỉ huy Trung đoàn. Quân ta, quân địch có chỗ đã gần như tràn lấn vào nhau. Tám chiếc khu trục địch vọt lên nhào xuống. Từng loạt đạn bắn xuống nhưng bừa bãi ra quãng chống vì quân ta đã trút bỏ hết lá ngụy trang bám sát vào quân địch nên vô hiệu hoá hoả lực của chúng. Những chiếc máy bay bổ nhào xuống nhưng không phân biệt nơi đâu là quân của chúng, đâu là quân của ta nên chỉ nhào lên nhào xuống không dám bắn, nhưng cũng có hai quả bom đột nhiên rơi xuống những đám quân địch phía trước kêu rú lên thì ra máy bay của chúng phần vì hoảng hốt phần vì nhầm lẫn mục tiêu thả bừa vào chính quân chúng. Lợi dụng tình hình rối loạn này, đại đội 156 lập tức xung phong diệt nốt những tên còn sống sót.
Sở chỉ huy của đại đoàn tạm thời đặt bên con đường mòn từ Thanh Lanh đi Tam Dương nay chuyển tới một khu vườn rừng trong vòng lượn của máy bay để theo sát trận đánh và kịp thời nắm được các báo cáo chạy bộ từ xa về gần. Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ đại đoàn đã hài lòng về mặt tư tưởng, quyết tâm đánh thắng bất cứ mọi địch thủ nào trên bất cứ địa hình nào ở trong rừng hay trên cánh đồi trọc, ruộng phẳng của cán bộ và chiến sĩ quân tiên phong. Khác hẳn trên Biên giới chỉ cần chốt được một số đường hoặc thung lũng hiểm yếu là địch không còn lối thoát. Nhưng ở Trung du bốn bề trống trải địch muốn chạy đường nào cũng được. Đại đoàn trưởng cấp tốc ra lệnh cho các đơn vị thay đổi cách đánh, phải nhanh chóng quây lấy từng bộ phận nhỏ của địch mà diệt. Trên khắp cánh đồng địch tiếp tục chạy, nhưng tất cả đều đã kinh hoàng và hoàn toàn kiệt sức. Súng cối, đại liên, điện đài, súng máy, súng lục kể cả lon sĩ quan vứt đầy đồng. Các chiến sĩ ta vẫn từng lớp ào ào đuổi tới. Những tên lính âu Phi bắt chước những tên lính nguỵ quỳ rạp xuống chắp tay vái lạy như tế sao. Không còn đủ thì giờ bắt tù binh nên các chiễn sĩ ta cứ gạt tất cả chúng lại đằng sau và chỉ về dãy núi Tam Đảo, bảo cho chúng biết cứ chạy ngược về phía đó sẽ có người thu nhận
Trong lúc đó trên con đường số 2 từ Hà Nội lên ở vùng Hương Canh, Tiểu đoàn 89 đã nắm thời cơ, tiêu diệt một loạt bốt, tháp canh trên đoạn đường từ Hương Canh về thị xã Vĩnh Yên và diệt 6 chiếc xe của địch.
Mũi tiến sâu và uy hiếp mạnh hơn cả là mũi của Tiểu đoàn 23 (Trung đoàn 88) đuổi đánh kiệt cùng, bám sát bọn tàn binh âu Phi thứ hai theo đường cái Nhân Mỹ - Đông Đạo tiến sát vào cửa ngõ thị xã Vĩnh Yên.
Trời vừa xẩm tối
Vì thấy không nắm được tình hình địch bên trong thị xã và không có dự kiến đánh Vĩnh Yên nên trận đánh vận động rộng lớn dữ dội chưa từng có ấy kết thúc. Chiến thắng thu được trong ngày rất to lớn: bên ta đã tiêu diệt một binh đoàn cơ động chủ lực - vốn quý của Đờ Lattre đã bị đập nát ngay trên địa hình trống trải mà địch có đầy đủ phi cơ pháo binh, bom Na phan, xe bọc thép... chi viện nhanh chóng. Điều đó chứng tỏ quân ta hoàn toàn có khả năng chiến thắng địch ở đồng bằng.
Những thắng lợi to lớn đánh đồn, đánh viện binh địch suốt mấy ngày giáp Tết vừa qua làm nức lòng quân dân trung du. Càng vui vẻ phấn khởi hơn cả là các làng xóm các huyện Tam Dương - Bình Xuyên - Kim Anh - Phúc Yên - Vĩnh Yên nhộn nhịp tưng bừng, nhà nào nhà nấy mở rộng cửa chong đèn chờ đón bộ đội thu quân vào làng. Đồng bào ào ra tíu tít quây lấy anh em, chèo kéo mời bằng được anh bộ đội, chị dân công vào nhà. Trong tất cả các sân nhà, sân đình dưới ánh sáng của những ngọn đèn bão, đèn măng xông, từng cánh cửa gỗ, mâm gỗ sơn đã bày ra san sát giữa sân. Buổi chiều, trong lúc bộ đội, dân công đuổi giặc cấp cứu tải thương binh thì các bà, các chị đã chia nhau đi mổ lợn thổi cơm làm sẵn cỗ để ăn mừng chiến thắng những ngày giáp Tết cuối năm Canh Dần.
Còn tết nào vui hơn Tết Tân Mão năm nay rực lửa chiến thắng Trung du!
ước vọng gì cao quý hơn là sự kiện liên kết du lịch giữa thủ đô Thăng Long Hà Nội ngàn năm văn hiến cùng với Thái Nguyên - Tuyên Quang thủ đô kháng chiến và Vĩnh Phúc mở ra nhiều tua du lịch quý hiếm trong đó có tua du lịch về Sông Lô - Bình Ca oai hùng, về chiến trường Trần Hưng Đạo - Trung du nổi tiếng với chỉ huy Sở chiến dịch của Đại tướng tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trên khu nghỉ mát Tam Đảo, với đại thắng Tú Tạo, Thằn Lằn, Hữu Bằng, Ba Huyên Thanh Vân, Đạo Tú, Tam Lộng, Núi đanh... Những tên đất, tên người đã làm nên lịch sử vĩ đại, cho mãi muôn đời cháu con ngưỡng vọng, tưởng nhớ.
Ngày mồng 1 Tết Tân Mão ứng với ngày mồng 3 tháng 2 dương lịch 2011, thuộc tháng Canh Dần, cửu tinh Bát Bạch, can chi Kỷ Sửu. Về ngũ hành, năm Tân Mão nhằm hành mộc, cụ thể là Tùng Bách Mộc, loại cây cứng cỏi, bất chấp thời tiết, bất chấp đất đai khô cằn, cheo leo, vẫn vươn lên xanh tốt, sống hàng ngàn tuổi. Nguyễn Công Trứ đã từng miêu tả cây thông (Tùng, Bách) mang khí tiết người quân tử.


Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông
Còn Nguyễn Trãi lại ví cây thông với bậc khai quốc công thần:
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai dặng già làm khách
Tài đống lương cao, ắt cả dùng

Tùng Bách Mộc chủ yếu sống trên núi, trên đồi, nếu đem trồng bên đường đi thì bị còi cọc, hoặc không tồn tại, vì khắc Lộ Bàng Thổ. Bởi thế, cổ nhân quan niệm người thuộc hai mạng này không tổ chức hôn phối được.
Người sinh năm Tân Mão, nhằm vào dương lịch 1951, 2011 và 2071. Vật tượng (con giáp) là Mèo. Nhưng người Trung Quốc khác với ta, coi vật tượng là thỏ.
Tân là tượng mùa thu, vạn vật sinh thành và đã thuần thục. Nó có vị cay. Tân là thừa Canh, tượng trưng cho đùi vế con người. Các việc như ngoại giao, xuất ngoại, du lịch, đá bóng năm nay thu được thắng lợi.
Mão biểu tượng của sự tốt tươi, sáng thịnh. Vạn vật vươn lên khi có ánh mặt trời. Tháng hai là thiên môn, hình dung của sự mở cửa. Năm nay, nhiều nhà đầu tư cỡ lớn xin hội nhập vào nước ta và nhiều doanh nhân Việt Nam khởi phát ở nước ngoài.
- Xét về địa chi lục hợp, người xưa cho rằng Mão hợp Tuất
- Xét về địa chi Tam hợp, thì Mão hợp Hợi và Mùi
- Nói về xung và phá, thì Mão xung Dậu, phá Thìn
Về Thiên can thì Tân (âm) hợp Bính (Dương). Tân xung Đinh vì cùng Can âm và Hoả khắc Kim.
Năm Tân Mão thuộc Quẻ Ly “ly vi hoả” là lửa, sáng, ứng vào 2 điều:
Một là vinh quang, rạng rỡ, sáng sủa
Hai là đề phòng hoả hoạn, cháy nổ
Nếu lập Bát quái thì đặt một vạch Dương, lên Thiếu Dương, ta có quẻ Ly.
Nước ta, dưới thời vua Bảo Đại, có quốc kỳ quẻ Ly, nền vàng các vạch (Hào) màu đỏ, tượng trưng cho Phương Đông. Sau, xét lại, nước ta là nước Nam, Đại Nam, Việt Nam phải ở phương Nam mới đúng, quốc kỳ lại đổi ra quẻ Càn, có 3 vạch song song với nhau, tượng trưng cho ba miền (Bắc - Trung - Nam). Chính xác ra, thì nước ta ở vào Đông Nam á. Năm nay, mọi việc đều tiến triển, nối tiếp lợi thế của năm Canh Dần và đại lễ 1.000 năm Thăng Long. Cờ đỏ sao vàng rực rỡ cả bầu trời Phương Nam, mang hồn nước uy linh văn trị, võ công.
Nói về tuổi Tân Mão, nếu là gái, sinh mùa đông, mùa xuân rất thuận, vừa giàu vừa sang, sinh mùa thu, mùa hạ thì lỗi mùa, hay lỡ dở, xung khắc.
Nếu là trai, sinh nhằm mùa hạ, mùa thu thì như Mạc Đăng Dung, tìm cách diệt trừ phe phái đối lập, thâu tóm quyền hành vào tay mình, rút cục suốt đời gian nan, lận đận. Ngược lại, ăn ở từ tâm, tu nhân tích đức thì hưởng thọ lâu dài.
Sinh con năm Mão, nên đặt tên có:
Bộ Khẩu: Như: triệu, khả, sử, hiệp, hợp, cát, đồng, danh, hậu, lại, hướng, quân, chu, lữ, hoà, phẩm, viên, triết, vấn, thiện, kiều, hiệu, vịnh, khả...
Bộ Thảo đầu, như: Bồng, hoàn, dụ, thược, chi, giới, kỳ, hoa, phương, chỉ, vân, cần, uyển, linh, đài, dĩ, cự, thiêm, anh, lệ, giao, hồi, trà, thảo.
Tránh trong tên có chữ Đại, vì mèo, thỏ chỉ là giống thú nhỏ, trong tên có chữ Đại, dẫn đến tính cách xưng hùng, xưng bá, ngang tàng, bạo ngược. Trong tên có bộ Tâm thì hung hãn. Trong tên có bộ Nhân sẽ trở nên nhút nhát, hay ẩn tránh. Vì xung khắc với tuổi Dậu, nên trong tên không nên có chữ Dậu. Tương khắc với tuổi Thìn, nên trong tên không có được chữ Thìn. Tên mỗi con người đều ảnh hưởng tới khí chất, tính cách tài vận, sự nghiệp cả một đời, nên không thể tuỳ tiện được.
Khi xưa, trẻ sơ sinh thường được đặt tên xấu xí để tránh quở quang, tránh quan ôn, quan dịch xem xét, ma quỷ quấy nhiễu, làm cho các cháu mang tâm lý tự ti, xấu hổ mãi, rồi trơ ra, tầm thường hoá mọi việc. Ngày nay ở thời hội nhập, người ta lại dùng tiếng Anh, tiếng Mỹ như Bốp, Giên, Bi, Ti, Dôn, Míc... để gọi tên con, thiết tưởng cách gọi ấy mang giọng điệu khôi hài, làm đứa trẻ bị yểm nhiễm tính lai căng, nhốn nháo, sùng ngoại. Mặt khác, bây giờ mỗi em bé ra đời đều có giấy chứng sinh, tiếp đó là giấy khai sinh, đặt tên tạm có thể gây khó khăn, phiền toái trong đăng ký hộ khẩu, trong tự thuật lý lịch. Mỗi con người đều có quyền khẳng định mình, chọn chữ ký cho riêng mình. Cho nên, bậc cha mẹ, ông bà, cần lựa chọn những cái tên thích hợp, có ý nghĩa để đặt cho con, cháu mình. Trong cái tên của mỗi đứa trẻ đều bao hàm tính truyền thống, dòng tộc, tính kế thừa, tình thương yêu và hy vọng. Cái tên đẹp làm các cháu tự hào. Khi lớn lên, các cháu mang trong mình những hàm ơn đối với bậc sinh thành và tổ phụ. Cái tên hay, có ý nghĩa tốt, làm các cháu tự tin, phấn đấu để thực hiện nội dung tiềm ẩn của cái tên ấy.
Danh xưng của mỗi người thời nay thường mang họ kép và tên kép, gồm 4 chữ. Họ kép thì họ cha đứng trước, họ mẹ đứng sau, như Nguyễn Lê, Trần Vũ, Hoàng Phạm. Nếu trùng họ nhau thì chuyển âm: Nguyễn Nguyễn thành Nguyễn Nguyên; Lê Lê thành Lê Lệ, Trần Trần thành Trần Trấn, hoặc Trần Trân. Còn tên kép, nên căn cứ vào bộ chữ Hán, Can Chi, Ngũ Hành... anh chị em ruột thịt họ và tên nên cùng khuôn chữ, để sau này có ly tán vẫn nhận ra nhau.
Dựa vào tinh con giáp, năm Tân Mão là năm hoà bình, hữu nghị, mọi sự êm thuận, nhưng tốc độ không đồng đều, khi quá nhanh, khi quá chậm, có lúc ì ra. Mặt hàng xuất khẩu tốt nhất là tôm cá. Môi trường sinh thái sạch sẽ, cảnh trí cao sang, lịch sự. Cuộc sống yên bình, ít xáo trộn.
Người Việt ta từ xưa đến nay vốn có rất nhiều Tết như: Tết mồng ba tháng ba (Tết Hàn thực hay tiệc bánh trôi), Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5), Tết Trung thu (Rằm tháng 8), Tết cơm mới (Thường tân, mồng 10 tháng 10 hay mồng 1 tháng 10 tuỳ nơi). Tết vẫn nương theo thời tiết tự nhiên chuyển vần theo mùa vụ một năm, chẳng hạn Tết Đoan ngọ là khoảng trước hoặc sau ngày Hạ chí; Tết cơm mới ở khoảng tiết Đông chí; Tết Trung thu ở khoảng tiết Thu phân, còn Tết Nguyên đán là nương theo tiết Lập xuân... Người xưa nói Xuân sinh - Hạ trưởng - Thu thu - Đông tàng là ý muốn nói vạn vật đều nương theo thời tiết của đất trời mà phát triển: Mùa xuân vạn vật sinh sôi; Mùa hạ vạn vật tăng trưởng, phát triển; Mùa thu gặt hái và mùa Đông héo tàn.
Thực ra mọi lễ lạt đầu năm mới được gọi thu gọn lại là Tết chứ nếu gọi một cách đầy đủ thì dân gian nói là Tết Cả, hay gọi theo tên chữ (Hán Việt) vốn đã từ lâu quen thuộc với ngôn ngữ dân gian là Tết Nguyên Đán.Nguyên là đầu tiên, “Đán là buổi sớm. Theo nguyên nghĩa thì Nguyên Đán là buổi sớm đầu tiên của tháng đầu tiên (tháng Giêng) của năm mới. Vậy Tết Nguyên đán là Tết đầu năm mới.
Tết là sự đón mừng năm mới, mừng cái mới và hy vọng vào sự đổi mới Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân, có nghĩa là: Mỗi ngày một mới, mỗi ngày một mới lại mỗi ngày một mới.
Mâm cỗ cúng gia tiên chiều 30 được đặt trên bàn thờ, trước mâm ngũ quả, hai bên bày 2 cặp bánh chưng vuông buộc cặp đôi, bên cạnh bày bánh mứt kẹo, một chai rượu trắng mở nút, 4 chén rượu... Một số nhà còn cúng một ly nước mưa, biểu hiện cho sự trong sạch tâm linh trước tổ tiên, thần thánh.
Mâm cỗ thắp hương lúc Giao thừa được bày ngoài sân, cúng Thổ công và các quan Hành khiển. Theo quan niệm dân gian, mỗi năm có một ông Hành khiển từ Trời xuống coi việc dân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao cho thần kia, nên gia đình phải làm lễ tiễn ông cũ, đón ông mới về điều khiển công việc của năm mới. Mâm cỗ này khá đơn giản, theo thông lệ là gà cả con, xôi cả chõ. Gà sống chưa cứng cựa, chừng 1, 3 đến 1, 5kg làm sạch, đem luộc, nước vừa sôi thì tắt lửa, để gà trong nồi om chừng mươi phút, sau vớt ra đĩa. Bộ lòng làm sạch sẽ, cuộn thành chiếc nem, đun sôi cùng tiết. Đôi chân giò buộc sợi rơm nếp, cho vào nước vừa lăn tăn sôi, vớt ra ngâm vào bát nước nguội một lát. Tất cả con gà, lòng, tiết và chân giò xếp gọn vào chiếc đĩa to, đặt lên bàn thờ. Phải để đầu con gà quay vào phía bát hương vì con gà là tượng trưng cho cuộc sống sung túc trong một gia đình, gà trống giữ chuồng, có tiếng gáy các lúc giữa khuya, nửa đêm hay lúc tan canh làm cho không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ. Gà quay đầu vào là gà thờ chủ, gia chủ sẽ phát đạt, thịnh vượng.... Ngoài ra lễ vật còn có một đĩa xôi, một bát nước mưa, 4 chén rượu, 1 đĩa muối trắng, 1 đĩa đựng con dao nhỏ, lá trầu, quả cau...
Bảy ngày trước ngày đầu năm mới, tức ngày 23 tháng Chạp là ngày chết tạm thời của vũ trụ (theo ước lệ). 7 là con số thiêng và là biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái toàn thể, như: 3 hồn ở tim, 7 vía ở rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông; Đức Phật sơ sinh bước đi 7 bước tức khắp vùng thế giới. Hay giải thích theo một ước lệ khác: Ngày 23 tháng Chạp là ngày ông Công, ông Táo, vị thần tuy 3 mà 1 trong Tam vị nhất thể: Thổ Công - Thổ Địa - Thổ Kỳ, cưỡi cá chép bay lên Trời để lại dưới hạ giới một cảnh tượng vô chủ - tâm linh. Ngày 23 tháng Chạp được gọi là Tết ông Công, ông Táo. Người ta làm cỗ cúng tiễn ông Táo chầu Trời, người ta mua cá chép sống rồi thả phóng sinh xuống ao hồ, đầm rạch... điều đó có ý nghĩa thiêng là; ngay trong ngày chết tạm thời của vũ trụ đã gieo mầm cho sự sống.
Dân gian ta còn có phong tục dựng cây Nêu ngày Tết. Cây Nêu của người Việt cổ có tiền thân và tên gọi từ cây tà -leo của các tộc bản nguyên ở Đông Nam á (Môn- Khơ me, Tài- Thái cổ). Cây Nêu mang ý nghĩa phổ quát của cây vũ trụ, còn gọi là Cây Mặt trời. Mặt trời được huyền thoại hoá như cánh chim đỏ thắm trên cây vũ trụ mà tượng hình trên cây Nêu là túm lông gà trống thiến, miếng vải đỏ hay vật đan hình tròn mắt lưới.
Sự tích cây Nêu là một huyền thoại cổ đã được Phật hoá về cành treo, treo áo cà sa Đức Phật xua đuổi bầy quỷ dữ từ biển Đông (tượng trưng bóng tối, các thế lực hắc ám...) lợi dụng lúc cuối năm vô chủ - thần linh, ào vào đất liền, tranh giành lãnh thổ của con người. Việc dùng vôi trắng (tượng trưng cho ánh sáng) vẽ cung tên trên sân nhà hướng về phía Đông cũng xuất phát từ ý nghĩa đó: ánh sáng xua tan đêm tối, mặt trời đi ngủ đông, phải dựng Nêu Tà -leo để đón ánh mặt trời, để mặt trời có chỗ đậu ngay khi vừa tỉnh giấc xuân.
Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn, đồng áng, buôn bán... cũng tạm dừng. Từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm gì nữa. Ngày xưa ở các công thư huyện, tỉnh, châu xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ hạp ấn (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...). đến nhà tù cũng không tiếp nhận tù nhân mới. Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với cái chết tạm thời của vũ trụ.
Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng hoá vàng, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần. Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày mùng 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.
Mùng 7 Tết là ngày Khai hạ, hạ cây Nêu coi như mừng kết thúc Tết, người ta lại làm lễ mở cửa rừng nơi rừng núi để người dân đi lại vào rừng tự do, người ta lại làm lễ khai ấn ở các công thự quan lại và triều đình, mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục...
Đến năm Tân Mão này Trường Trung học phổ thông Trần Phú (tiền thân là trường Nguyễn Thái Học) vào tuổi 64, nhưng nếu xét đến yếu tố an cư, lập nghiệp tại đỉnh Dốc Láp thành phố Vĩnh Yên thì mới tròn 50 năm. Tên gọi Dốc Láp gợi lại bao niềm tự hào trong nét đẹp truyền thống. Nơi đây có chùa, có đình làng thờ Lỗ Đinh Sơn Thất vị đại vương có công đánh giặc giữ nước. Đặc biệt ở đây có Văn miếu tỉnh Vĩnh Yên xưa.
Thác Bản Vĩnh Yên tỉnh Văn miếu bi ký chép: “Nước Việt ta ở phương Nam, sớm xưng nền văn hoá đã lâu. Từ thời Lý Trần đến nay đều tôn sùng Khổng giáo, nước nhà đề cao đạo Khổng nên ở đô thành (Hà Nội) có Văn miếu; các tỉnh đều có văn miếu, xuân thu hai mùa đều đến thờ cúng theo điển lễ đã ghi rất trang nghiêm. Vĩnh Yên được tách thành tỉnh từ năm Thành Thái 11 (1890), khắp nơi đều quy hoạch lại, chỉ Văn miếu là chưa có. Năm Quý Hợi (1923), tôi phụng mệnh phủ Tư Thổ bàn bạc vơi các bạn đồng liêu di chuyển Văn miếu cũ Vĩnh Tường về gò Giác Lạc phía Bắc xã Định Trung, tỉnh Vĩnh Yên là thích hợp nhất. Văn Miếu mới quay lưng vào núi Tam Đảo, mặt hướng ra Đầm Bạc (Vạc), lấy Tích Sơm làm lá chắn, đỉnh núi mặt sóng bao bọc cho toà đương đàn (Văn Miếu). Thực là do trời tạo nên vậy!...” Bia lập ngày 20 tháng 5 niên hiệu Bảo Đại năm thứ hai (1927). Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Văn Bân thi hội đỗ Đồng tiến sĩ khoa Tân Sửu soạn.
Đồi Láp từng có thi nhân, hoạ sỹ đến cư ngụ sáng tác. Trước năm 1930 thi sĩ Tản Đà đã đến ở thôn Láp dưới ngay phía sau trường văn hoá nghệ thuật. Tại nơi đây thi sĩ đã sáng tác nhiều thơ văn. Thi sĩ lưu bút nơi mình ở: “Sau đồi có hoa dẻ vàng, tiếng mõ trâu; trước mặt có đường quốc lộ, Đầm Vạc nước xanh trong, xa hơn có đường sắt tuyến Hà Nội ngược Yên Bái, phía tây có chùa... Thi phẩm Đêm Xuông Phủ Vĩnh khá tiêu biểu: “Đêm xuông vô số cái xuông xuồng / Xuông rượu, xuông tình, bạn cũng xuông / Một bức màn con coi ngán nỗi / Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng / Một vừng giăng khuất đi mà đứng / Một lá mành treo cuốn lại buông / Ngồi hết đêm xuông, xuông chẳng hết / Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông.
Hoạ sĩ Lưu Công Nhân những năm 90 của thế kỷ trước đã cư ngụ tại đây. Chính tại nơi đây, hoạ sĩ đã lấy cảnh, nguyên mẫu để có những tranh sơn mài về thiếu nữ được đồng nghiệp đánh giá cao. Ngày ông xa Vĩnh Yên vào Đà Lạt, ông đã thốt lên: “Phải xa luỹ tre làng, xa cái cầu ao, con đường đất đỏ ở thành phố trẻ Vĩnh Yên còn giữ lại được”.
Trên đỉnh Dốc Láp 50 năm qua có một dòng chảy văn hoá trẻ trung đã 50 năm nay, đó là ngôi trường Trần Phú thân yêu. Từ những mái nhà cấp 4, chỉ có 6 lớp với mươi thầy cô, đến nay đã có trên ba mươi lớp, trường học cao tầng. Nhà trường đã phổ cập bậc phổ thông cho hàng vạn thanh niên, trong đó có nhiều người là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, trung ương, là tướng lĩnh, giáo sư, tiến sĩ... ở lĩnh vực văn học nghệ thuật đã có nhiều nhà văn, nghệ sĩ quen thuộc trong lòng độc giả như: Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh, các nhà thơ: Nguyễn Bùi Vợi, Vũ Duy Thông, Vũ Đình Minh, Ngô Văn Phú, Nguyễn Đăng Bẩy, Ngân Vịnh, Nguyễn Hữu Hà... đạo diễn điện ảnh, Nghệ sĩ ưu tú Phi Tiến Sơn...
Những người xa trường luôn dành nhiều tình cảm với người ở lại, nhà thơ Vũ Duy Thông đã viết: “Giờ tôi về cùng dốc sỏi thân thương / Góp với hàng cây mái đầu tóc bạc / góp với sân trường dấu chân xây xước / Góp với bạn bè gương mặt đã quên / Nỗi từng trải nửa đời, tôi góp tặng đàn em”. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi xúc động: “Bạn ở lại với vùng đồi bền bỉ / Năm ấy dạy cha giờ dạy con / Khoảng xa ấy bao điều phải nghĩ / Để nắng mưa không bào xối tâm hồn”.
Những người ở lại nối tiếp truyền thống hơn 60 năm qua đã lập nhiều thành tích tiêu biểu. Trường Trần Phú được nhận Huân chương lao động hạng Ba, hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Ba; danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, 6 giáo viên được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú ngay tại trường.
Hiện nay nhà trường đang khẩn trương hoàn thành hai công trình để đón xuân Tân Mão; nhà truyền thống - thư viện. Đặc biệt xây nhà bia trên nền cũ để dựng bia đá phiên bản (bản chính được đặt tại Văn miếu tỉnh).
Đồi Láp dòng chảy văn hóa mang nét truyền thống là hình ảnh đẹp của Văn miếu xưa trường học hôm nay.
Từng cơn gió lạnh tiếp tục tràn vào thành phố, và như còn mang theo cả dư âm tiếng súng của ta trong các trận đánh vừa qua ở Biên giới. Hà Nội dưới sự chiếm đóng của giặc Pháp không còn cái vẻ yên tĩnh như mấy năm trước nữa. Nhân dân lao động bàn tán khắp nơi. Niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Trái lại những tay sai bù nhìn thì hoang mang không kém bọn quan thầy của chúng. Giá cả thực phẩm, hàng hoá bỗng khan hiếm, tăng lên vùn vụt. Người dân mua tích trữ vì đồ chừng rất có thể quân ta sẽ đánh về Hà Nội. Trong lúc đó gia quyến của nguỵ quân, nguỵ quyền hạng bự cũng hối hả mua vét vàng bạc, len dạ, vải vóc để cùng chạy...
Các tướng chóp bu, các nhà chính trị Pháp đã không ngớt cãi vã và hết lời đổ lỗi cho nhau sau đại bại ở Biên giới Việt Trung. Rốt cuộc cả Pi -nhông lẫn Các -păng-chi-ê đều bị thải hồi, gọi về nước. Chính phủ Pháp đã nhằm ngay Đại tướng Đờ Lát -de Tát -xi-nhi, một danh tướng có uy tín rất lớn trong quân đội Pháp sang thay. Nội các Pháp quyết định:
- Tiếp tục tăng viện cho Đông Dương đến mức tối đa. Đồng thời tăng gấp đôi ngân sách chiến tranh.
- Lấy Bắc Việt làm chiến trường chính, rút hẳn về phòng ngự chiến lược, cố giữ lấy những khu vực còn lại để làm cơ sở sau này phản công đánh chiếm toàn bộ đất đai Việt Nam.
- Không thể không nhận viện trợ của Mỹ nhưng cố gắng ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ.
Sau chiến thắng Biên giới, Trung ương Đảng, Bác Hồ và Tổng quân uỷ quyết định điều động binh lực xuống Trung du nhanh chóng mở chiến dịch mới. Phạm vi chiến dịch lần này bao trùm một vệt khá dài: từ vùng Tiên Yên vòng sang tới tận miền trung du Bắc bộ và lấy Vĩnh Yên - Phúc Yên làm trọng điểm.
... Qua Thái Nguyên các đơn vị của đại đoàn 308 quân tiên phong hoàn thành một chặng hành quân cuối cùng từ Cao Bằng về tập kết ở vùng đồi núi dưới chân dãy núi Tam Đảo, giáp địa phận của Vĩnh Phúc. “Trung du đây rồi!” Trung du như hai nốt nhạc ngân vang trong lòng các chiến sĩ quân tiên phong. Trong Đại đoàn cũng có cả một Trung đoàn chôn nhau, cắt rốn ở đây. Trung du! Hai tiếng ấy cũng gợi lên biết bao đau thương và tưởng nhớ. Giặc Pháp đã chiếm đóng và giày xéo trung du 16 tháng trời.
Đồng chí Nguyễn Duy Kiệt, Phó Bí thư kiêm Chủ tịch huyện Bình Xuyên, người học trò yêu quý của cha tôi là cụ Giáo Thao và tôi đã giới thiệu anh vào hoạt động Việt Minh năm 1944. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi, phen này quyết giải phóng quê hương. Anh Kiệt được phân công đi phục vụ hoả tuyến cho đại đoàn 308 suốt chiến dịch trên phạm vi địa hạt Bình Xuyên. Đồng chí Lê Sĩ Hiệp, Huyện uỷ huyện Kim Anh (Phúc Yên) được phân công phối hợp với trung đoàn 88 Đại đoàn 308 chúng tôi. Trong phạm vi các địa phương thuộc Phúc Yên. Tại sở chỉ huy Đại đoàn, trong một khu rừng nứa dưới chân dãy núi Tam Đảo, đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ chăm chú nghe hai đồng chí cán bộ địa phương báo cáo tình hình địch ta trên chiến trường sắp tới. Quân giặc đã lập xong ba hệ thống đồn bốt. Vành đai, đường quốc lộ và đê sông Hồng, sông Đuống. Nối ngang những hệ thống ấy với nhau là mạng tháp canh tề nguỵ như một tấm lưới sắt chụp lên các tỉnh Vĩnh Yên - Phúc Yên - Bắc Ninh - Bắc Giang. Mỗi địa danh chỉ trong vòng 16 tháng đã trở thành địa ngục trần gian với những tên đao phủ khét tiếng như “Tây Cậu” núi đôi, “Xếp Cụt” Yên Lạc, quen lấy người dân làm bia sống bắn chơi, mỗi ngày phải thấy máu người chảy mới ăn ngon miệng!
Những đội Com -măng-đô đi đến đâu cũng đốt nhà làm đuốc, chặt đầu người đem bêu, moi gan nhắm rượu. Chúng lấy cột gỗ, ván canh của đình, chùa, nhà thờ về xây đồn bốt. Chính những đồng bào Phúc Yên đã tận tình giúp đỡ tiểu đoàn 54 đầu năm 1949 trong thời gian luyện quân lập công chuẩn bị vượt sông Hồng sang hoạt động ở Sơn Tây, những tiểu đoàn 84, tiểu đoàn 29 đã cùng nhân dân ghi những chiến công lừng lẫy: Núi Đôi, Kim Anh, Thanh Vân, Đạo Tú thì chỉ trong 16 tháng qua bị giặc Pháp triệt phá, thu gom, kìm kẹp, lục soát để không còn gì tiếp tế cho con em đi Việt Minh (bộ đội cụ Hồ).
Hai đồng chí lãnh đạo huyện Bình Xuyên và Kim Anh hồ hởi báo cáo cho đồng chí chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ rằng nhân dân trung du mong chờ từng giờ từng phút các đơn vị chủ lực về để cùng với các đại đội địa phương và dân quân du kích giải phóng quê hương, bà con đã chuẩn bị sẵn sàng lương khô là bánh dầy, chè lam, gạo, vừng, cả trâu bò nữa. Đặc biệt thôn xóm nào có “chó săn” ác ôn (tề ngụy nguy hiểm) và cả chó nuôi sữa làm lộ quân báo của ta đều được nhân dân Phúc Yên tiểu trừ hết cả. Nên khi đoàn quân bôn tập vào tận sát đồn địch không hề bị lộ. Đại đoàn trưởng cứ yên tâm, nhân dân trung du vẫn một lòng một dạ hướng theo Đảng, kính yêu cụ Hồ dù có đói rét cũng dành hết cơm áo cho bộ đội ăn no đánh giặc.
Qua dây nói, từng trung đoàn lần lượt báo cáo về: các tiểu đoàn đã xuất kích, đại đoàn trưởng bắt tay tiễn từng đồng chí Huyện uỷ đi theo cán bộ tác chiến về cùng từng tiểu đoàn chiến đấu đêm nay, trong ánh mắt đại đoàn trưởng hiện lên một cái gì vui tươi và rất tin tưởng.
...Đêm mùa đông đổ xuống khá mau trong vùng tạm chiếm, đêm tối càng thêm tĩnh mịch nặng nề. Không một tiếng chó sủa, không một ngọn đèn trong các thôn xóm, gió thổi hồi dài buồn bã lung lay mấy cột nhà cháy đen sạm tây đốt còn lại trên đừng rút chạy sau các cuộc càn lùng sục mấy tháng trước.
Đột nhiên, tới canh khuya bà con trong các thôn bỗng giật mình choàng dậy vì những tiếng rung lớn, nhỏ nổ ở rất nhiều nơi, chỗ xa chỗ gần như có một trận giông tố dữ dội, khác hẳn với những loạt súng cầm canh thường lệ của các đồn bốt. Tiếng súng mỗi lúc một nhiều. Mặt đất rung chuyển, rồi bầu trời đang tối sầm dần dần đỏ rực từng mảng có nơi cả vùng lửa da cam của đại bác ta thiêu cháy lô cốt giặc. Vui mừng quá, đồng bào địa phương đổ xô ra các cổng làng, các gò đồi vui reo:
Tú Tạo bị đánh rồi!
ấp cà phê nữa! đúng rồi! bà con ơi!
Đằng kia nữa! Hữu Bằng đêm nay
Cũng bị sập chẳng sai
Sướng quá bà con ơi, các cụ ơi!
Đại quân chủ lực của ta đã về rồi mới có đại bác nhiều thế, dồn dập đánh cùng trong một đêm nhiều đồn ác ôn của Pháp có âu Phi đóng thế chứ. Thế nào mà chả có đại tướng Giáp về trực tiếp mở chiến dịch tiến về đồng bằng trung du thì mới đánh lớn, tiêu diệt nhiều địch để chuyển mạnh sang tổng phản công chứ!
Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ vừa chỉ huy diệt hai binh đoàn Charton Lepage ở Biên giới về, đây lại là địa bàn Căng Bá Vân nơi ông đã bị tù thời Pháp thuộc, huấn luyện bạn tù về quân sự trước đây nên am hiểu khu Nam Tam Đảo này như lòng bàn tay, nay lại chỉ huy các đơn vị chủ lực đầu tiên của quân đội đánh thẳng vào Tú Tạo, đó là Sở chỉ huy tiểu khu Phúc Yên của Pháp, tường gạch cao, lô cốt xây ở bốn góc đồn. Chung quanh đồn có hàng rào dây thép gai, lẫn cả rào tre nứa, rất kiên cố nhưng công sự vẫn chủ yếu là công sự kiểu cũ mà đại đoàn trưởng đã từng vào sát chân rào cùng với cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội để chuẩn bị các trận đánh trước thành công.
Các chiến sỹ ở đại đoàn quân tiên phong quả thật rất thiện nghệ trong cách dùng thang ván vượt rào chông nhảy vào đồn. Chỉ trong khoảnh khắc các mũi đột kích đã lọt vào trong vị trí địch. Tên phó đồn trưởng đồn Tú Tạo đã bị bắn chết ngay bên cạnh chiếc bàn còn đầy rượu, bánh và quà Nôen. Một chiếc xe Gíp đậu ở giữa sân đồn bị đốt cháy ngùn ngụt, quân địch ở trong đồn bị chết và bắt sống gần hết. Mò mãi chiến sĩ Tường phát hiện ra một cửa ngách ở đoạn giao thông hào, thế là một quả bộc phá 10kg chẹn vào rồi mấy thùng xăng đổ ngay vào đó, một tiếng nổ ngọn lửa bùng lên, khói tràn ngập đồn. Tiểu đoàn trưởng 18 ra lệnh thu quân để kịp bôn trở về khu tập kết.
Trong khi đó, tiểu đoàn 54 bố trí bao vây chặn địch ở quanh ấp cà phê định để đêm sau mới diệt đồn này. Chỉ cách Tú Tạo 1km đường chim bay nên khoảng 23 giờ thì tiếng đại bác, trung liên bên Tú Tạo vang lên rồn dập; đột nhiên thấy cổng đồn phía bắc có lính địch tràn ra, tình huống đã xẩy ra ngoài dự kiến. Rất linh hoạt, quyết tâm, tiểu đoàn phó Phương “mèo” bèn hạ lệnh:
- Địch ra khỏi đồn, càng tốt. 273 nổ tung! Như bầy kiến bị mồi lửa lia tới, bọn địch đè sấn lên nhau chạy toán loạn, quay trở vào đồn, tràn ra phía Tây. ở phía Tây đại đội trưởng Nguyễn Viết Nhâm liền hạ lệnh cho trung đội đột kích tiến lên đánh giáp lá cà, địch chạy toán loạn về phía Nam đồn. Đại đội trưởng Nhâm chỉ huy các chiến sỹ băng mình vào đồn địch. Những tên lính cuối cùng bị tóm cổ. Tiếng kèn chiến thắng vang lên, không quá 15 phút quân ta đã hoàn toàn quét sạch quân địch, một đại đội lính da đen của địch gồm trên một trăm tên bị xóa sổ.
Cùng trong thời gian đó, phía làng Hữu Bằng huyện Bình Xuyên tiểu đoàn 322 trung đoàn 88 đã bôn tập từ Đèo Nhe qua làng Thanh Lộc vượt sông Chanh bằng cầu trên chặng đường dài hơn 15km vừa kịp đặt khẩu sơn pháo độc nhất thì được lệnh của trung đoàn nổ đồn dập một đợt. Sau đó các chiến sĩ 322 dùng bộc phá quét sạch hàng rào xông lên khá nhanh khi cả ba lô cốt ở ba góc đồn bị mất, bọn địch còn sống sót lại chui xuống hầm ngầm gần như ở Tú Tạo vậy. Tiểu đoàn trưởng Nam Hà vào đồn quan sát rồi quyết định tập trung 20kg bộc phá lại giải quyết xong. ở dưới làng, trung đội 466 của huyện đã cùng với nhân dân bắt gọn bọn Việt gian. Đồng chí Nguyễn Duy Kiệt, Chủ tịch huyện Bình Xuyên tổ chức ngay một cuộc mít tinh ngắn gọn mừng chiến thắng đêm mở màn chiến dịch Trung du.
Đêm thứ hai chiến dịch (28/12/1950) trung đoàn 88 được lệnh đánh đồn Thằn Lằn. Đồn này quân số gồm có hai trung đội âu Phi cùng một đại đội bộ binh, xây dựng trên một dải núi đất có hình giống một con thằn lằn. Đồn Thằn lằn ở phía Bắc, cách thị xã Phúc Yên 5km đường chim bay. Quyết tâm diệt Thằn Lằn. Bộ chỉ huy chiến dịch có ý định tiêu diệt sinh lực địch, tiếp tục phá vỡ tuyến ngoại vi hệ thống phòng thủ trung du ở một khâu hiểm yếu và uy hiếp Sở chỉ huy khu vực Zône) Vĩnh Yên - Phúc Yên của địch. So với Tú Tạo, Thằn Lằn có phần “rắn” hơn vì nó ở trên một điểm cao 124m dốc ngược, lại ở giữa một vùng đồng bằng bốn bề trống trải. ở đây địch có thể phát huy thế pháo binh, chi viện đắc lực.
Trung đoàn 88 sử dụng tiểu đoàn 29 tiểu đoàn mạnh nhất của trung đoàn. Từ 17 giờ, khi những tia nắng vàng cuối cùng vẫn còn chiếu trên các ngọn cây lưa thưa trong khu rừng trú quân ở vùng Bá Vân. Các chiến sĩ tiểu đoàn Lũng Vài (29) đã toả ra đầy đường. Giờ xuất kích sắp tới, bộc phá và pháo binh vẫn chưa về kịp. Trung đoàn trưởng Nguyễn Thái Dũng lệnh cho tiểu đoàn trưởng Hùng Sinh: đánh theo phương án hai! Anh cho “bôn” đi thôi!..
Thế là cả đoàn quân bắt đầu rào rào chuyển mình như đoàn tàu tốc hành. Trời dần dần tối hẳn, đoàn quân đang nhịp nhàng lúc chạy, lúc đi rảo, bỗng có tiếng lao xao từ dưới chuyển lên. Nhường chỗ cho pháo và bộc phá vượt lên!
Tốt lắm! Có pháo có bộc phá càng chắc thắng. Qua khỏi suối, trước mặt đoàn quân đã hiện lên một dãy núi đen sì đồ sộ. Đồn địch xây ở chính giữa sống lưng con thằn lằn khổng lồ ấy. Các đơn vị đã triển khai xong, trung đoàn trưởng cùng với tiểu đoàn trưởng bò lên sát hàng rào thứ nhất để kiểm tra một lần cuối. Đồn thằn lằn hình vuông, tường gạch bao quanh kiên cố. Nhớ lại đêm trước ở Tú Tạo, tiểu đoàn 18 cũng đã sử dụng bộc phá và tiểu đoàn 322 đánh được Hữu Bằng cũng phải dùng bộc phá, đêm nay thằn lằn kiên cố hơn nhiều việc đánh bằng bộc phá càng quan trọng.
Tên quan hai Ma lắc (Malarme) mặc cả quân phục đi nằm. Đêm trước hắn đã thức trắng, đề phòng Việt Minh tới, nhưng lại không thấy. Cái đồn này kiên cố thế Việt Minh vào sao nổi! đang lắc lư cái đầu tự nhủ thì tiếng đại bác 75 li nổ vang trời thúc mạnh vào hai cạnh đồn. Y tái mặt cầm khẩu súng ngắn nhào ra cửa phòng.
Lần lượt ba lần ba ánh lửa đỏ rực bùng lên phá ba làn hàng rào. Chiến sĩ bộc phá số 4 vấp phải gốc cây ngã nhào, lập tức chiến sĩ Vượng chồm dậy vác bộc phá của bạn tiến thắng đến hàng rào cuối cùng...
- Báo cáo! Đã mở hết hàng rào! Đề nghị cho xung kích lên!
Ngay tức khắc, một loạt đạn tung lên tiểu đội trưởng Nguyễn Bội Thực vừa xung phong vừa hát: “Dù trong bao gian nguy, hỡi người Bôn -sê-vích, coi thường cả trùng dương sóng gió ngàn khơi...” tiếng hát khàn đặc nhưng nó có sức mạnh như cơn lốc cuốn theo cả đơn vị vào đồn. Anh em bắt sống được tên quan hai Ma lắc đang hớt hải bỏ chạy vào lô cốt. Tất cả quân địch trên mặt đồn đã bị quét sạch. Hầm nổi lên khỏi mặt đất như một mâm xôi, số địch sống sót chui cả vào đấy. Đã cho gọi hàng nhưng địch ngoan cố chống cự. Cả chính uỷ và trung đoàn trưởng thấy đạn ĐKZ đều vô hiệu quả đành lệnh cho tiểu đoàn trưởng Hùng Sinh cho đại bộ phận chiến sĩ rút ra ngoài chỉ để tổ công binh lại, mấy phút sau chiến sĩ công binh mang lên nửa tạ thuốc nổ đã được ghép chặt vào trong chiếc va li còn thơm lừng mùi nước hoa của tên đồn trưởng. Mọi việc xong xuôi, tất cả lùi ra xa, một chiến sĩ công binh cắt ngòi nổ, rồi dùng chiếc sào dài đẩy nhanh va li lên đúng đỉnh hầm ngầm. Một tiếng nổ long trời lở đất. Cả dãy núi Thằn Lằn tưởng như sụt hẳn xuống, cả vùng Phúc Yên đến tận cận kề Hà Nội rung chuyển cùng tiếng nổ rền vang hồi lâu.
Cũng giờ phút ấy, ở cách Thằn Lằn 3km tiểu đoàn 23 trung đoàn 88 đã cắt cầu Khả Do chặn đứng đại đội âu Phi do tên quan ba Phan -va-do chỉ huy, diệt hơn một trung đội, buộc chúng phải chất xác nhau lên xe tháo chạy một mạch về Phúc Yên.
Trong lúc tiểu đoàn 29 tiêu diệt các cứ điểm Thằn Lằn thì tiểu đoàn chủ công 80 của trung đoàn 36 tiến đánh đồn Yên Phụ. Sau nhiều đợt vượt qua các làn pháo địch ở Cầu Đuống và Phù Lỗ bắn chặn, dù có người bị thương vong trên cánh đồng bằng phẳng nhưng quân ta vẫn quyết tâm tiêu diệt đồn Yên Phụ.
Đến đây, đợt một của chiến dịch Trung du kết thúc.
Chấp hành chỉ thị của Đại đoàn, các đơn vị ra sức làm tốt mọi mặt công tác củng cố đơn vị để chuẩn bị cho đợt hai tiêu diệt lớn quân cơ động âu Phi của địch.
Nhìn bên ngoài, những khu rừng non dưới chân triền dãy Tam Đảo vẫn giữ nguyên vẻ lặng lẽ im lìm của nó. Nhưng bên trong đang diễn ra những cảnh tượng nhộn nhịp, tấp nập thoả mái, vui vẻ giữa hai đợt của chiến dịch Trung du.
Cũng trong mấy đêm đông giá lạnh ấy nhiều đơn vị nhỏ rời mái lán và đống lửa hồng ấm áp, bằng hàng chục con đường mòn khác nhau, thấm sâu vào sau lưng địch, Vĩnh Phúc như những mạch nước ngầm. Đó là các đội vũ trang tuyên truyền, các đại đội bộ đội địa phương và cả tiểu đoàn 89 của Đại đoàn quân tiên phong. Họ đi trước hoạt động để chuẩn bị cho đại quân tiến vào đánh lớn.
Trong lúc vượt đường số 2, đại đội 466 địa phương Bình Xuyên do đồng chí Nguyễn Duy Kiệt, Chủ tịch huyện, trực tiếp phụ trách gặp đồng chí Lâm, Bí thư Huyện uỷ. Đi sau đồng chí Lâm là một đoàn dân công địch hậu quang gánh kĩu kịt. Gạo nếp, bánh dầy, chất có ngọn trong những chiếc thúng lớn. Lại có cả một đàn bò khao quân lững thững đi theo... Thế mới thấy được lòng dân yêu mến anh bộ đội cụ Hồ đến nhường nào.
Đi trong hàng quân di chuyển, lòng chúng tôi nao nao niềm phấn khích: Tất cả cho Chiến dịch thắng lợi, tạm biệt bà con quê mình, tạm biệt Phúc Yên thân yêu, chúng tôi ra đi, tiếp cho giai đoạn II của Chiến dịch để ngày mai quê hương mình hoàn toàn độc lập.

 Trần Quang Tạo (st)

 

Các tin đã đưa ngày: