Võ Nguyên Giáp- Văn hóa ứng xử Việt - Mỹ

01/08/2013

Trong dịp kỷ niệm 25 năm giải phóng miền Nam và 45 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều nhà báo, nhà văn nước ngoài tới thăm Việt Nam để tìm hiểu về 2 cuộc chiến tranh. Tháng 8 năm 1998, anh John Kennedy, con trai của cố Tổng thống Mỹ F. Kennedy, lúc ấy phụ trách tờ báo George ở Washington, trong buổi tới thăm nhà văn Hữu Mai ngỏ ý: “Làm sao mà gặp được tướng Giáp? Tôi đã chuẩn bị từ Washington, nhưng người ta đều nói là không thể gặp Đại tướng!”

Nhà văn Hữu Mai nhận lời đề nghị giúp John Kennedy. Tháng 11 năm 1998 Tạp chí George tại Washington có đăng bài John Kennedy phỏng vấn đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhà văn Hữu Mai gửi ông Nguyễn Trương Quý dịch bài phỏng vấn và cho in vào phần cuối của cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ: “Không phải huyền thoại” - cuốn sách quý cuối cùng nhà văn Hữu Mai để lại cho chúng ta.

Nhân dịp Xuân Canh Dần 2010, Tập san Văn hoá, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc trân trọng trích đăng nội dung bài phỏng vấn trên, để một lần nữa hiểu thêm về vị tướng đã trở thành huyền thoại trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc và chiêm nghiệm về những vấn đề tưởng là lịch sử nhưng nó vẫn hiện hữu và luôn luôn mới mẻ trong cuộc sống của chúng ta hôm nay.

Trân trọng giới thiệu với bạn đọc

Sau buổi tới thăm của John Kennedy, nhà văn Hữu Mai đã gửi đến Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp điều mong muốn, ấp ủ của anh. Đại tướng cân nhắc rồi quyết định gặp John Kennedy.

... Hôm nay, người đàn ông đó cùng uống trà nhài và ăn bánh đậu xanh với tôi (John Kennedy) tập trung nói về một vấn đề tồn đọng khác...

“Anh biết đấy, tướng Giáp vừa nói vừa vỗ vào đầu gối tôi, tôi đã từng là một vị tướng chiến tranh, nhưng giờ đây tôi muốn trở thành vị tướng hoà bình”.

Kennedy: Bằng cách nào mà nghề giáo của ông lại chuẩn bị cho ông sự nghiệp của một chỉ huy quân đội tối cao của Việt Nam?

Đại tướng: Bởi vì như mọi người Việt Nam, tôi muốn độc lập, và ở Việt Nam, chúng tôi thường nói: giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh. Vì thế khi tôi được hỏi: Ai là vị tướng người Việt giỏi nhất? tôi nói: “Nhân dân Việt Nam”.

Kennedy: Sự khác nhau giữa chiến đấu chống Pháp và Mỹ là gì?

Đại tướng: Người Pháp nghĩ họ hiểu tình hình vì họ đã cai trị Việt Nam gần 100 năm và họ quyết tâm giành phần thắng. Nhưng chính lúc người Pháp tập hợp được lực lượng quân sự mạnh nhất và chắc chắn về thắng lợi, họ lại thất bại ở Điện Biên Phủ vào năm 1954. Nhiều tướng lĩnh và Bộ trưởng Pháp tới Điện Biên Phủ trước khi nó sụp đổ, nhiều tướng Mỹ cũng từng tới, và họ đều nói rằng: Điện Biên Phủ không thể bị tiêu diệt. Rồi nó đã sụp đổ (cười).

Kennedy: Người Mỹ và Việt Nam lẽ ra rất khó trở thành kẻ thù của nhau. Hồ Chí Minh từng dẫn Tuyên ngôn độc lập (của Mỹ) trong diễn văn của mình và người Mỹ cũng đã cung cấp, hỗ trợ kỹ thuật trong cuộc chiến chống lại quân Nhật trong Thế chiến thứ hai. ông có bao giờ nghĩ mình sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại người Mỹ?

Đại tướng: Người Việt và Mỹ có một lịch sử quan hệ lâu dài. Tổng thống Fefferson, khi còn là Bộ Trưởng đến thăm Pháp tại Paris đã gặp Hoàng tử Việt Nam (Hoàng tử Cách- con vua Gia Long- ND). ông ta muốn mang theo hạt giống lúa về Mỹ. Trong Thế chiến II, một nhóm người Mỹ do viên thiếu tá OSS Allison Thomas đã nhảy dù xuống Chiến khu và hợp tác với chúng tôi khi chúng tôi đánh Nhật. Nếu sự hợp tác đó được tiếp tục, sẽ không có chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam.

Năm 1963, khi tướng De Gaulle đến Phnom Penh có nói chúng tôi đã thua trận, vì thế người Mỹ không nên nhảy vào làm gì, nhưng người Mỹ trả lời: “Pháp là một chuyện, Mỹ khác. Mỹ có sức mạnh khổng lồ và như thế chúng tôi sẽ thắng” và khi sức mạnh Mỹ là lớn nhất, khi họ chắc thắng nhất, họ lại thua quá đau.

Khi cha anh là Tổng thống, tôi là Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam và tôi phải nghiên cứu rất kỹ tư duy và chính sách của ông ấy. Ban đầu tôi tin rằng kế hoạch của ông ấy là dùng sức mạnh quân sự để giúp chính quyền Sài Gòn ngăn chặn phong trào Cộng sản. Nhưng bây giờ, qua các tài liệu lịch sử, tôi được biết rằng về sau Tổng thống Kennedy đã nghĩ lại và không muốn ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn. ông muốn Hoa Kỳ chỉ tham gia chiến tranh Việt Nam trong một phạm vi nhất định. Nếu sự kiện không may đó - cái chết của cha anh, không xảy ra, mọi sự có thể sẽ khác đi, chứ không phải như chúng đã diễn ra dưới thời Johnson và Nixon.

Kennedy: ông nói cuộc chiến đấu chống lại Mỹ là một cuộc chiến chính trị bên cạnh cuộc chiến quân sự. ý của ông về điều đó là như thế nào?

Đại tướng: Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: không bao giờ có một chiến lược thuần tuý quân sự cả. Bởi vậy chiến lược của chúng tôi bao gồm mọi thứ - các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao. Và nó không phải là một cuộc chiến tranh được tiến hành bởi riêng lực lượng quân đội, nó được tiến hành bởi toàn dân. Đó là một điểm mà những tướng lĩnh và chính trị gia Mỹ đã không hiểu.

Kennedy: Xin ông giải thích khi nói rằng người Pháp và Mỹ bị đánh bại vào đúng lúc họ trang bị quân sự mạnh nhất?

Đại tướng: So sánh với Trung Quốc hay Mỹ, Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, dân số chúng tôi không quá lớn. Nhưng trong một nghìn năm độc lập của Việt Nam, triều đại nào Trung Hoa cũng tấn công Việt Nam, và đều thất bại, bởi vì người Việt Nam có một cách chiến đấu dựa hoàn toàn vào sức mình.

Trong những năm 1960, tôi có đến thăm Liên Xô để tìm kiếm sự hỗ trợ, vì lúc đó máy bay ném bom B52 của Mỹ đang oanh tạc khá nặng nề. Tại cuộc gặp ở Matxcơva, Bộ Chính trị Xô Viết được triệu tập, có Chủ tịch Xô Viết tối cao Brêgiơnhép và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Xosighin. Xosighin hỏi tôi: “Đồng chí Giáp, đồng chí nói sẽ đánh bại Mỹ. Vậy tôi muốn hỏi đồng chí, đồng chí có bao nhiêu sư đoàn bộ binh được cơ giới hoá để so sánh với Mỹ? và xe tăng với máy bay chiến đấu - người Mỹ có bao nhiêu?”

Tôi đáp lại: “Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí về tương quan lực lượng, đây là mấu chốt cơ bản của khoa học quân sự Xô Viết, một nền khoa học ngoại hạng đã đánh bại nhiều kẻ thù. Nhưng nếu chúng tôi chiến đấu theo cách của các đồng chí, chúng tôi sẽ không trụ nổi hơn hai giờ đồng hồ”. Sau chiến thắng của chúng tôi, tôi có dịp quay trở lại Matxcơva và tôi có gặp lại Xosighin, ông ấy bắt tay tôi và bày tỏ sự ngạc nhiên: “Tuyệt vời, ông nói, các đồng chí chiến đấu rất giỏi”.

Kennedy: Đã có rất nhiều giấy mực viết về việc người Mỹ được trang bị cồng kềnh và không thích hợp để chiến đấu tại cuộc chiến tranh trên bộ ở Đông Nam á. ý kiến của ông như thế nào?

Đại tướng: Tôi đã đọc vài nhận xét của các binh lính GI Mỹ về cuộc chiến diễn ra thế nào. Một trung uý có viết: “Khi bạn đi ra trận địa (ở Việt Nam), chỉ sau đó bạn mới biết chiến tranh là gì. Những nhà chỉ huy bên trên ta không hiểu gì. Chúng ta tìm kiếm kẻ thù mọi nơi và chẳng thấy gì, nhưng khi chúng ta nghĩ không có địch, thì kẻ địch xuất hiện. Chẳng có chiến tuyến, mà chỗ nào cũng là chiến tuyến. Nhìn thấy người lớn, chúng ta sợ. Nhìn thấy trẻ con, chúng ta sợ. Và chỉ cần thấy một cái lá rung rinh là chúng ta cũng lại lo sợ...”

Kennedy: Trong thời gian thăm viếng của tôi ở đây, tôi ngạc nhiên khi thấy sự thù hận đối với người Mỹ thật ít. Tại sao vậy?

Đại tướng: Gần đây, một cựu chiến binh Mỹ đến thăm tôi và tôi tiếp đón anh ta rất nồng nhiệt. Anh ta nói: “Tôi không hiểu tại sao trước đây tôi đã đến đây đánh Việt Nam, và không hiểu sao ngài lại tiếp đón tôi như thế này?”. Và tôi nói: “Trước đây, lính GI đến đây mang theo Thompson và vì thế chúng tôi tiếp họ với tư cách những người mang súng ống. Bây giờ anh đến như khách du lịch và chúng tôi tiếp anh với tinh thần của lòng mến khách”. Và rồi người đàn ông bắt đầu khóc.

Tôi cũng đã tiếp Đô đốc Zumwalt- viên chỉ huy đã ra lệnh rải chất độc da cam. ông ta bảo tôi là con trai của chính ông cũng đã phải chịu đựng hậu quả của hoá chất này. “Tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình”, viên Đô đốc nói. Và tôi nói: “Tôi hiểu”. Bởi vậy, câu hỏi bây giờ là làm sao cho nhân dân hai nước đều yêu hoà bình lại gần nhau hơn.

Kennedy: Làm thế nào để sự hoà giải đạt được mức cao nhất?

Đại tướng: Mỗi một công dân Mỹ có thiện chí nên làm gì đó để làm cho quan hệ tốt hơn. Chúng ta phải hiểu nhau hơn, đặc biệt là thế hệ trẻ. Tôi muốn nói thêm một điểm nữa, có lẽ hậu quả đau thương nhất của chiến tranh là tác động của chất độc da cam. Là những người theo chủ nghĩa nhân đạo, chúng ta phải chia sẻ trách nhiệm để giúp đỡ các nạn nhân Việt Nam vượt qua được những khó khăn của họ.

Nguyễn Văn Bồng

(Sưu tầm và giới thiệu)

 

Các tin đã đưa ngày: