Ngày 12 tháng 2 năm 1950: Một mốc son trong lịch sử kháng chiến chống pháp của tỉnh Vĩnh

01/08/2013

Ngày 18/8/1949, giặc Pháp mở chiến dịch Canigu (Canigou) tập trung 3.000 quân (phối hợp các lực lượng bộ binh cơ động, lính nhảy dù, cùng với cơ giới, pháo binh, không quân) tổ chức bốn mũi tiến công chủ yếu nhằm đánh chiếm toàn bộ hai tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên. Chúng càn quét khốc liệt bất cứ nơi nào chúng tràn qua, đốt phá nhà cửa, bắt giết man rợ... Đến cuối tháng 11/1949, chúng chiếm được nhiều vị trí chiến lược; đồng thời ra sức thực hiện chính sách bình định những vùng chúng đã tạm chiếm.

Từ năm 1950, giặc Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch “Đóng điểm chiếm tuyến”, xây dựng trên 200 vị trí chốt giữ với những hệ thống cứ điểm vững chắc hình thành ba tuyến phòng thủ để bảo vệ vùng chiếm đóng. Tuyến thứ nhất là vành đai đột xuất ngăn cách vùng tự do và vùng tạm chiếm, có lô cốt, boong-ke do lính âu - Phi chiếm đóng; tuyến thứ hai là hệ thống phòng thủ dọc theo quốc lộ số 2 với những tháp canh do ngụy quân hoặc quân liên hiệp Pháp đóng; tuyến thứ ba là hệ thống phòng thủ theo đê sông Hồng suốt từ Đại Độ (Đông Anh) đến Việt Trì, có hệ thống tháp canh lô cốt do quân ngụy đóng giữ và sĩ quan Pháp chỉ huy... Do vậy, địa bàn hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên đã hình thành hai vùng tự do và tạm chiếm. Vùng tự do gồm toàn bộ huyện Lập Thạch và phía Bắc huyện Tam Dương, do ta kiểm soát; phần còn lại của cả hai tỉnh đều thuộc vùng tạm chiếm, do địch kiểm soát, là nơi kháng chiến diễn ra quyết liệt.

Để đối phó với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời làm cho mặt trận Vĩnh Phúc có được địa bàn kháng chiến rộng lớn, có vùng hậu phương vững chắc làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh vùng địch hậu thắng lợi, ngày 13/1/1950, Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc đã tổ chức Hội nghị bàn về việc hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên. Dự Hội nghị có các đại biểu đại diện Ban Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc, đại diện Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Yên và tỉnh Phúc Yên. Sau khi nêu lý do, nguyên tắc tổ chức của việc hợp nhất hai tỉnh, Thường vụ Liên khu uỷ đã thông qua một bản báo cáo quan trọng về đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, quân sự và tổ chức Đảng, các cơ quan chuyên môn của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên gửi lên Trung ương; đồng thời đề nghị Trung ương cho hai tỉnh hợp nhất thành một tỉnh lấy tên là Vĩnh Phúc. Được Trung ương đồng ý, Liên khu uỷ chỉ đạo hai Tỉnh uỷ Vĩnh Yên và Phúc Yên nhanh chóng triển khai các công việc chuẩn bị cho hợp nhất tỉnh. Cuối tháng Giêng năm 1950, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Yên và tỉnh Phúc Yên đã họp Hội nghị tại núi Tam Đảo (thuộc tỉnh Vĩnh Yên) để bàn cụ thể việc hợp nhất hai tỉnh về mặt Đảng và Chính quyền. Tại Hội nghị, đại diện Thường vụ Liên khu uỷ Việt Bắc đã công bố quyết định của Trung ương về thành lập Đảng bộ lâm thời tỉnh Vĩnh Phúc gồm 15 đồng chí, do đồng chí Phan Lang làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Phan Hữu Quảng làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh.

Ngày 12/2/1950, Chính phủ ra Nghị định số 03-TTg do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký về việc hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Tỉnh Vĩnh Phúc ra đời từ ngày đó. Thực hiện Nghị định của Chính phủ, Hội nghị hợp nhất tỉnh được tiến hành tại thôn Sơn Kịch, xã Hợp Lý (nay là xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch). Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 huyện, với tổng diện tích 1.715km2, 47 vạn dân, có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có dân tộc Kinh chiếm đa số. Toàn Đảng bộ tỉnh có 18.758 đảng viên. Đến cuối năm 1950, tỉnh có 164 chi bộ, trong đó có 1 chi bộ quân lương và 1 chi bộ liên chi tiểu đoàn. Tỉnh có 18 ban, ngành, đoàn thể; ngày 19/2/1950, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc ra Thông tri số 01/TT-VP nhắc nhở về việc sáp nhập các ban chuyên môn của Đảng bộ hai tỉnh thành một ban thống nhất để nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định.

Việc hợp nhất tỉnh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cuộc kháng chiến đã tập trung và thống nhất được sự chỉ đạo kháng chiến của Đảng bộ Vĩnh Phúc, kiện toàn được đầy đủ bộ môn, các ngành, các giới ở tỉnh, huyện giúp cho sự chỉ đạo được chặt chẽ hơn. Từ đó cơ quan chỉ đạo kháng chiến của Vĩnh Phúc có những chuyển biến mới. Cấp uỷ, cán bộ các cấp được tập trung. Lực lượng vũ trang được thống nhất. Địa bàn địch hậu được rộng rãi, thông suốt giữa hai tỉnh tạo thêm những điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo, củng cố và phục hồi cơ sở, phát triển du kích chiến tranh, đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân địch hậu chống giặc áp bức bóc lột, bảo vệ cơ sở kháng chiến.

Đầu tháng 4/1945, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc tổ chức Hội nghị mở rộng bao gồm các cán bộ lãnh đạo tỉnh, huyện tổng kết kinh nghiệm chiến dịch Tổng phá tề tháng 2/1950, đề ra nhiệm vụ, phương châm đấu tranh mới trong việc phục hồi cơ sở địch hậu, giữ vững cuộc đấu tranh với địch. Sau đó nhiều hội nghị của các huyện uỷ, chi uỷ xã được tổ chức để quán triệt nhiệm vụ, phương châm trở về, kiên trì địch hậu gây cơ sở.
Nhờ có chủ trương đúng và sự lãnh đạo chặt chẽ, quyết tâm của Tỉnh uỷ, với tinh thần chịu đựng gian khổ khó khăn của cán bộ, bộ đội địa phương, du kích, đặc biệt là cán bộ xã, mặc dầu nạn đói kém thiếu thốn, địch ra sức khủng bố bắn giết mất hàng trăm người, nhưng vẫn quyết tâm kiên trì lăn lộn ngoài đồng, bờ ao, rừng sậy gây cơ sở; trong đó bộ đội phân tán đã đóng một vai trò quan trọng, có tác dụng đáng kể làm nòng cốt.

Từ đó cơ sở dần dần được hồi phục. Từ tháng 4 đến tháng 6/1950, toàn tỉnh đã gây dựng được cơ sở ở 89 thôn trong các huyện, gồm: 36 thôn cán bộ, bộ đội, du kích ăn ở, hoạt động bí mật được, 26 thôn chi uỷ xã có thể nằm vùng được, 27 thôn chi uỷ, cán bộ có thể ra vào ở lại được vài ngày.

Những nơi cơ sở khá đã từ hình thức tập hợp quần chúng thành ngũ gia liên việt (5 nhà một tổ) tiến tới thành các tổ chức thanh niên, phụ nữ, phụ lão... Chi uỷ, uỷ ban phân công nhau mỗi người phụ trách từng thôn; cử những trung kiên cốt cán phụ trách các tổ các giới, làm quân báo theo dõi địch tình, phòng gian bảo mật. Chắp nối lại mạng lưới giao thông, quân báo. Lãnh đạo vận động nhân dân phân tán cất dấu thóc lúa, tránh sự cướp bóc của địch. Bước đầu đấu tranh đòi giảm bớt thuế, tha cho những người bị bắt... nhiều thôn thu được kết quả.

Để tạo điều kiện cho chiến tranh du kích vùng địch hậu phát triển và cổ vũ tinh thần quần chúng, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc chủ trương tạo ra một tiếng vang về quân sự. Đêm 13-6-1950, Tiểu đoàn 64 bộ đội chủ lực tỉnh được lệnh tiêu diệt đồn Sơn Kiệu, một điểm chốt giữ của địch nằm trên quốc lộ số 2 thuộc huyện Vĩnh Tường. Trận đánh diễn ra nhanh chóng. Sau mấy tiếng đồng hồ chiến đấu, quân ta đã san phẳng vị trí này, tiêu diệt 2 tên chỉ huy Pháp và 17 lính Bảo hoàng, thu toàn bộ vũ khí và quân trang, quân dụng của địch. Đồn Sơn Kiệu nằm ngay trong lòng địch bị ta tiêu diệt làm cho quân dân Vĩnh Phúc hết sức phấn khởi và tin tưởng. Thắng lợi ấy còn có ý nghĩa khởi đầu sự trưởng thành của bộ đội địa phương.

Tháng 9/1950, Trung ương mở chiến dịch giải phóng Biên giới. Quân dân Vĩnh Phúc đã cung cấp sức người làm nhiệm vụ tải đạn, tải thương, cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến. Phối hợp với chiến trường biên giới, Vĩnh Phúc đã đánh mạnh vào các cơ sở tề ngụy của địch ở vùng tạm chiếm; đến cuối năm đã làm tan rã 120 ban tề ngụy, khôi phục cơ sở kháng chiến ở 364 thôn tạm chiếm... gây cho địch nhiều khó khăn lúng túng trong việc bình định chiếm đóng.

Từ ngày 26/12/1950 đến ngày 17/1/1951, Bộ đội chủlực được lệnh mở chiến dịch Trần Hưng Đạo (Trung du), địa bàn diễn ra chủ yếu ở tỉnh Vĩnh Phúc. Vĩnh Phúc đã huy động hàng vạn ngày công làm nhiệm vụ tải đạn, tải thực phẩm cho bộ đội chiến đấu trên địa bàn tỉnh.

Phối hợp với mặt trận chính trên tuyến đột xuất, ở vùng địch hậu, dân quân du kích và bộ đội địa phương đánh phá các tháp canh, lô cốt của địch ở Vân ổ, Phú Đa, Tứ Trưng, Hưng Lục (Vĩnh Tường), Giã Bàng (Yên Lạc). ở các huyện Đa Phúc, Kim Anh, phong trào phá tháp canh, diệt phá tề, trừ gian, khử những tên phản động đã làm cho bộ máy ngụy quyền bị tan rã ở nhiều nơi.

Kết thúc chiến dịch Trần Hưng Đạo, ta đã giành được nhiều thắng lợi lớn, tiêu diệt 2.565 tên địch, bắt sống 1.577 tên, thu 1.478 súng các loại, phá 32 tháp canh, lô cốt, làm tan rã 219 ban tề, 21 đội bảo an hương dũng, diệt và bắt nhiều tề nguỵ phản động, phá huỷ 12 xe quân sự. Ta đã phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trên tuyến đột xuất, mở rộng cơ sở ra 353 thôn, giải phóng 9 xã, 3 thôn: gồm các xã Hướng Đạo, An Hoà, Hợp Hoà, Tam Quan, Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Đại Đình, Kim Long (Tam Dương), Hồng Kỳ (Đa Phúc) và các thôn Đạo Thượng, Cốc Lương, Ngô Đạo (Tân Hưng, Đa Phúc).

Từ đây, cuộc kháng chiến của Vĩnh Phúc cùng với cả nước chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang phản công. Còn phải trải qua nhiều khó khăn gian khổ, gian nan thử thách, mất mát, hy sinh nữa; còn phải đấu tranh anh dũng, lập công xuất sắc, chiến thắng oanh liệt nữa mới tới ngày thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn quê hương.


Nguyễn Xuân Lân

 

Các tin đã đưa ngày: