Tạo dáng - Điêu khắc

03/06/2016

Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu đến nay đã qua 6 lần khai quật. Sơ bộ thống kê 4 cuộc khai quật (cuộc khai quật lần thứ II và lần thứ VI, Viện bảo tàng lịch sử chưa công bố, đang chỉnh lý) chúng ta đã có 1344 hiện vật đá, 218 hiện vật bằng xương, sừng, 304 hiện vật gốm, 273 hiện vật đồng có thể phục nguyên được, chưa kể hàng tấn mảnh gốm vỡ và nhiều mảnh đồng, dây đồng nhỏ.

Những di vật trên đã chứng tỏ kỳ tích của ông cha ta trong việc tạo dáng, điêu khắc. Khi sáng chế công cụ thì phải nghiên cứu kỹ lưỡng chức năng của công cụ, nghiên cứu kỹ phần việc mà công cụ phải đảm nhiệm, để tạo cho chúng một hình dáng thật thích hợp, không thừa không thiếu. Mặt khác, phải nghiên cứu làm sao cho hình dáng công cụ đẹp mắt, thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người. Tổ tiên ta đã làm được điều đó. Có thể nói tất cả các công cụ được tạo ra thời Hùng Vương, dù là đồ đá, đồ gốm hay đồ đồng, được chế tác bằng bất kỳ kỹ thuật nào (ghè, đẽo, nặn, đúc...) đều có hình dạng, kiểu dáng rất phù hợp với chức năng của công cụ và phù hợp với thẩm mỹ của con người.

Sách Văn hóa Dân gian Vĩnh Phúc

Những kiểu dáng ấy cũng rất ổn định, có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài. Thậm chí đến tận ngày nay, một số loại công cụ như: nồi, bình, vò, lưỡi rìu, lưỡi câu, bôn, giáo, dao găm... tuy đã được sáng chế bằng sắt thép, nhôm, nhựa với kỹ thuật hiện đại nhưng hình dáng của chúng vẫn như cũ, hoặc tương tự như ba, bốn nghìn năm trước.

Cho đến nay vẫn chưa ai biết tổ tiên ta gọi các công cụ của mình là gì. Việc đặt tên cho các công cụ đã khai quật được là do các nhà nghiên cứu thấy chúng hình dạng, kiểu dáng giống như ngày nay nên đã lấy tên gọi của công cụ ngày nay mà đặt cho công cụ ngày xưa. Điều đó đủ thấy trình độ tạo dáng rất chính xác của dân Văn Lang, những người Vĩnh Phúc thời cổ.

Do trình độ tạo dáng - điêu khắc giỏi như thế, nên một số công cụ thời nay đã trở thành vật mẫu cho các loại hình công cụ khác ở thời kỳ sau. Ví dụ, hình dáng của trống đồng thời Hùng Vương ngày nay vẫn còn thấy phảng phất qua nhiều đồ vật trong dân gian như những bộ tượng tam thế trong các chùa chiền, những mâm đồng, ống hoa, đài, bình ở các đền miếu, trên bàn thờ nhà dân... Chúng đều có một kiểu dáng chung là phần trên to, phần giữa thắt lại, phần đế phình ra...

Trong di chỉ Đồng Đậu (Yên Lạc), ta đã tìm thấy tượng trâu, bò, gà, tượng đầu người bằng đất nung độc đáo. Đó là những tượng tròn độc lập mang tính chất tạo hình rõ nét. Những tượng tròn này cùng với những tượng tròn phát hiện đồng thời ở giai đoạn Đông Sơn ngoài địa bàn Vĩnh Phúc như nhóm tượng người cõng nhau thổi khèn, tượng người thổi khèn ngồi trên cán muôi v.v… đã góp phần minh chứng cho sự độc lập phát sinh của nền nghệ thuật điêu khắc Văn Lang.

Sự ra đời của loại hình nghệ thuật tượng tròn ở giai đoạn văn hoá Đông Sơn là đỉnh cao của một nền nghệ thuật tạo hình. Nó đánh dấu sự phát triển về tư duy trí tuệ tới một thời kỳ mới trong lĩnh vực tạo hình, phản ánh hiện thực bằng hình khối cụ thể (tả người, tả vật) ở không gian ba chiều. Chất liệu làm tượng là đá, đất nung, đồng thau. Nặn tay, đúc rèn, mài gọt là những thủ pháp chính của kỹ thuật chế tác.

Đề tài của tượng chủ yếu là con người, ngoài ra còn là một số muông thú như gà, bò tót, cóc, chó, chim, hổ... tất cả đều ở trạng thái động rất linh hoạt. Những thành tựu trên của nền nghệ thuật Đông Sơn, cho thấy rằng việc xuất hiện những tượng tròn kiệt xuất ở một đỉnh cao hơn như tượng đá Phật A Di Đà, tượng gỗ Phật Quan âm nghìn mắt, nghìn tay đã làm ngạc nhiên biết bao sử gia mỹ thuật thế giới, là một điều tất yếu, phù hợp với quy luật tiến triển của tư duy nghệ thuật của dân tộc Việt Nam, mà những cư dân đầu tiên trên vùng đất Vĩnh Phúc đã có những đóng góp đáng kể.

 

 

Các tin đã đưa ngày: