Kiến trúc

07/06/2016

ăn và ở là hai yêu cầu thiết yếu được đặt ra ngay từ buổi đầu tiên con người vừa mới hình thành. Suốt một quá trình dài của thời nguyên thuỷ, con người sống chủ yếu dựa vào các hang động thiên nhiên để săn bắt, hái lượm, nên nghệ thuật kiến trúc chưa hình thành.

Từ thời đại đồ đá cũ đến hậu kỳ đồ đá mới, tiến dần lên thời đại đồ đồng, tổ tiên xa xưa của chúng ta cũng rời bỏ hang động miền núi tiến ra miền trung du và đồng bằng, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, đánh bắt cá, cho nên phải làm nhà cửa để che nắng che mưa và chống thú dữ. Trải qua một quá trình dài thực nghiệm và cải tiến, đến giai đoạn văn hoá Đông Sơn, mô hình ngôi nhà đã hoàn chỉnh và khá phong phú, mà hình ảnh cụ thể của nó còn được khắc trên trống đồng Đông Sơn. Và dấu vết vật chất của nó cũng tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn (Thanh Hoá) là những dóng tre, những mảnh phên đan và đặc biệt là những cột nhà bằng gỗ dài đến 4, 5 mét có lỗ mộng cách chân cột 1, 25 mét (để bắc sàn?). Đó là những ngôi nhà ở trên sàn không có tường, mái cong võng hình thuyền và chảy xuống sát sàn kiêm luôn chức năng vách che. Hai đầu mái phía trên uốn cong và nhô ra xa. Những mô hình nhà này đều mang dáng dấp con thuyền, tĩnh mà rất động, thon thả mà chắc chắn, thích nghi với khí hậu nắng nóng và mưa to.

Người ta làm nhà cho dân, lầu gác cho các lạc hầu, lạc tướng, nhà sản xuất cho các công xưởng mỹ nghệ. Từ trung tâm là kinh đô Văn Lang, dân cư trú thành từng vùng trên những sườn đồi, đỉnh gò, chân núi và những doi đất cao ráo. ở đó việc xuống ruộng, lên nương, vào rừng, ra sông để trồng trọt, săn bắt, cấy hái và chài lưới được thuận tiện, đồng thời cũng dễ dàng đối phó khi có bất trắc xảy ra.

Sách “Lĩnh Nam chính quái” có chép: “Buổi đầu dựng nước, đồ ăn của dân chưa đủ, lấy vỏ cây làm áo, dệt cói làm chiếu, lấy hèm gạo làm rượu, lấy bột quang lang làm bánh, lấy thịt chim muông, cá tôm làm mắm, lấy gừng làm muối, cấy bằng dao, đốt cỏ bằng lửa. Đất nhiều gạo nếp, lấy ống tre để nấu cơm (1).   gác gỗ làm nhà (2)  để tránh khỏi hổ lang ăn thịt”.

Ngay từ thời ấy, người Việt cổ trên đất Vĩnh Phúc đã rất quan tâm đến mặt thực dụng, nhưng cũng không xem nhẹ phần thẩm mỹ trong khi xây dựng nơi ở của mình. Những nơi cư trú này có những điểm rộng đến hàng vạn mét vuông như khu di chỉ Đồng Đậu (Yên Lạc). Khu di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu được phân bố trên một quả gò (nên gọi trở lại cho đúng tên là Gò Đậu) rộng khoảng 16.000 m2 nằm ở ven rìa của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi giao điểm của những vùng đồi đất đỏ larêtít và vùng bồi tụ của phù sa sông Hồng đã được cư dân thời xưa cư trú liên tục với quy mô tương đương một làng khoảng ba, bốn trăm dân cư bây giờ. Nhà ở trong khu cư trú này là kiểu nhà sàn, nguyên liệu chủ yếu là gỗ, tre, vàu, diễn, lá cọ. Nhà thường hơi võng giữa, hai đầu nóc uốn cong lên như ta thấy trên nóc đình ở đời sau này. Giữa nóc nhà là trang trí hình chim. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó là hình tượng thờ vật tổ Chim Lạc, mà các đời sau thay thế bằng đôi rồng chầu mặt Nguyệt.

Để phòng tránh thú dữ và chống lại những bộ tộc từ xưa đến xâm lấn, nơi cứ trú thường có hàng rào bằng cây gỗ bao bọc, chắc chắn hơn thì có hàng rào tre trồng dầy thành luỹ. Mỗi làng xóm thời cổ thường xây cất một ngôi nhà công cộng kiểu như nhà Rông vùng Tây Nguyên, nhà Lang người Mường và ngôi đình người Việt hiện nay.

Ngoài nghệ thuật Kiến trúc nhà sàn, ta không thể không nói đến một loại công trình kiến trúc cổ đại nữa, đó là thành quách. Đỉnh cao nhất và điển hình nhất của nghệ thuật Kiến trúc thời này là thành Cổ Loa, được An Dương Vương, người kế nghiệp các vua Hùng xây dựng vào khoảng thế kỷ III trước công nguyên. Làng Cổ Loa thuộc tổng Cổ Loa - huyện Đông Anh trước đây thuộc Vĩnh Phúc (từ năm 1961 được tách khỏi Vĩnh Phúc, chuyển giao về ngoại thành Hà Nội).

Thành Cổ Loa còn có tên là Thăng  Long thành hay Khả Lâu thành. Đời Đường (Trung Quốc) gọi là Côn Lôn thành và thành rất cao. Nhân dân ta quen gọi là Thành ốc hoặc Loa thành, vì nó được xây dựng 5 vòng xoáy trôn ốc. Hiện thành chỉ còn lại 3 vòng. Trải mấy nghìn năm mưa gió và sự phá hoại của con người, những đoạn thành đất còn lại đến ngày nay vẫn sừng sững như gò cao, có chỗ cao đến chín, mười mét. Dưới thành là hào sâu, rộng từ 10 đến 30 mét. Hào được đào nối với sông Hoàng Giang. Thuyền bè có thể đi lại xung quanh các vòng thành, ra sông Hoàng Giang, rồi ra sông Hồng, sông Cầu sông Lục Đầu để tiến ra biển. Thành Cổ Loa là một kiến trúc quân sự độc đáo.  Đó là một căn cứ bộ binh và thuỷ binh phối hợp. Khi nhắc đến thành Cổ Loa, ta liên tưởng đến truyện Thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành, rồi truyện Nỏ thần... Đó là những truyền thuyết thần thoại hoá một hiện thực lịch sử, ca ngợi một công trình kiến trúc quân sự vĩ đại, vượt quá sức tưởng tượng của người xưa, ca ngợi một tài năng tổ chức và chỉ huy của vị đứng đầu nhà nước âu Lạc, đã khiến cho Triệu Đà mấy lần đến xâm lấn đều phải thất bại thảm hại trước thành cao hào sâu nhiều lớp và những mũi tên đồng thần kỳ. Cuối cùng, Triệu Đà phải dùng mưu gian: Lợi dụng lòng tốt của cha con An Dương Vương để xin giảng hoà và làm thông gia mới dò la được bí mật của kiến trúc toà thành và bí mật của nỏ thần mà xâm lược nước ta.

Thành Cổ Loa chứng tỏ tổ tiên ta khi mới dựng nước đã có một trình độ khá cao về tổ chức và xây dựng những công trình phòng ngự vững chắc, kiên cố.

Trải qua nhiều thời gian với bao thăng trầm lịch sử cho đến ngày nay, những dấu vết còn lại tuy ít ỏi, nhưng cũng cho thấy mỹ thuật thời đại Hùng Vương là một nền mỹ thuật bản địa, được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Văn Lang và sau này là nhà nước âu Lạc. Nền mỹ thuật ấy đã phát triển từng bước từ thấp đến cao, và ngày càng hoàn thiện. Nếu như ở giai đoạn Phùng Nguyên mỹ thuật trang trí chủ yếu là những nét vạch, những đường thẳng, đường cong, vòng tròn đồng tâm thì đến giai đoạn Đông Sơn, tổ tiên ta đã tạo ra được tượng tròn, chạm được những bức tranh hiện thực phản ánh chân xác sinh hoạt đương thời.

Người xưa tạo nên những bức tranh nghệ thuật với mục đích trang trí vật dụng cho đẹp mắt. Những sáng tạo nghệ thuật ấy, ngày nay, lại có giá trị như những trang lịch sử sống động đầu tiên của dân tộc.

Nền nghệ thuật ấy chính là những di sản quý báu của nền văn hoá văn minh dân tộc; là những giọt mật tinh tuý được chắt ra từ khối óc thông minh, đôi mắt tinh đời, những bàn tay tài giỏi, khéo léo của tổ tiên chúng ta, góp phần tạo nên bản sắc nghệ thuật dân tộc.

Sách Văn hóa Dân gian Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: