Thầy đồ và lớp học chữ nho

23/10/2017

Thời xưa, trong làng quê Việt Nam, những ai trải qua kỳ thi Hương mà còn trai trẻ thì được gọi là Thầy.

          Thi Hương được tổ chức ở tỉnh hoặc liên tỉnh, nhằm chọn người đủ trình độ để dự khoa thi Hội của cả nước. Thi Hương có 3 vòng. Đỗ được cả 3 vòng gọi là đỗ Tam Trường nhận bằng cử nhân danh xưng Hương Cống, Cống Cử, Cống sinh hay Cống sĩ… Đỗ một vòng là Tú Tài. Đỗ đi đỗ lại một vòng là Tú Kép hoặc Tú Mền như trường hợp Trần Tế Xương, không đỗ vòng nào là Sinh Đồ được gọi là Thầy Khoá. Đỗ đầu các vòng thi Hương là Giải Nguyên.

          Không đỗ Tam Trường trong các vòng thi Hương, không đỗ Tiến sĩ trong kỳ thi Hội, các Sinh Đồ, Tú Tài, Cử Nhân này trở về quê hương mở trường dạy học.

          Như vậy dù đỗ hay không đỗ Tam Trường, các nhà Nho này vẫn có đủ tư cách để được gọi là Thầy dạy học, nói cách khác là Thầy Đồ.

          Có những vị đã đỗ Tiến Sĩ nhưng không làm quan, có vị xin nghỉ việc quan vể quê nhà, lại có vị về hưu rồi còn muốn giúp đời, tất cả bọn họ đều đủ tư cách để mở trường dạy học hoặc các hào trưởng địa phương các quan chức hàng huyện, hàng tỉnh mời ra dạy học.

          Người dạy chữ Nho còn trẻ tuổi thì được gọi là Thầy Đồ, lớn tuổi hơn là Ông Đồ hoặc Cụ Đồ.

          Khi Hồ Xuân Hương gọi Chiêu Hổ là Anh Đồ không có nghĩa nữ thi sĩ nói Chiêu Hổ là “Thầy dạy chữ Nho” mà hàm nghĩa “Anh chàng thiếu tư cách” kiểu danh xưng trách móc.

          Từ Thầy khi xưa dùng để chỉ những nam thanh niên có trình độ nho học từ Nhất trường (Vòng thi hương thứ nhất) trở lên. Cách gọi Thầy Chánh, Thầy Lý, Thầy Thông, Thầy Lang, Thầy Bói, Thầy Cúng… là để chỉ những người có trình độ Nho học nhất định. Còn cá nhân nào không biết chữ hoặc mới học chữ mà được gọi là Thầy là sai lầm hoặc lạm dụng. Chuyện tiếu lâm kể về “Thầy đồ liếm mật”, “Thầy đồ ăn vụng chè” chỉ phê phán cá biệt chứ không phải phổ biến. Đã là Thầy thì phải có đủ các yếu tố:

          - Dáng vẻ thư sinh tri thức

          - Nói năng điềm đạm, tỏ ra có học.

          - Tư cách đúng đắn.

          - Cử chỉ đoan trang, nghiêm túc.

          - Đạo đức mẫu mực.

          Nói riêng về Thầy Đồ thì chữ Đồ có 12 tự dạng và 12 nghĩa khác nhau. Từ Đồ trong Thầy Đồ có nghĩa là học trò, Thầy Đồ mang nghĩa đầy đủ là người trẻ tuổi dạy học xuất thân từ học trò hoặc “Người dạy học chữ Nho và đạo làm Người”.

          Thầy giáo là người có Tân học, còn Thầy Đồ là người theo Cựu học. Chỉ dưới thời Pháp thuộc, những nhà khá giả như Nghị Quế (Tắt Đèn – Ngô Tất Tố) mới dám gọi là Thầy Đồ thành Thầy Giáo cho sang. Ta không nên lẫn lộn giữa Thầy Đồ với Thầy Giáo.

          Thầy Đồ dạy học ở làng được gọi là Hương Sư, dạy ở Tổng được gọi là Tổng Sư.

          Trường học ngày xưa được gọi là Nhà học, chỉ có 1 thầy dạy chung cho tất cả các lứa tuổi, theo các trình độ học khác nhau. Thầy hướng dẫn trò đọc từng chữ và nghĩa của nó. Sau đó cho trò tập viết Tô lên chữ son cho thầy. Khi trò viết đã đúng nét son, không nhoè thì thầy cho viết chữ Phóng. Thầy viết một tờ Phóng thật chuẩn và đẹp bằng mực đen lồng vào trang vở tập. Trò soi theo chữ của thầy mà viết. Đến khi trò viết Phóng thành thạo rồi thì thầy trò viết Buông. Nhờ viết Buông được rồi, trò có thể tự chép bài trong sách in ra mà học. Trò giỏi thì học 2 trang 1 ngày, trò trung bình thì chỉ học 2 dòng khoảng 30 chữ, trong đó có 5 hoặc 6 từ mới. Trò kém chỉ học 6 chữ hoặc 9 chữ một ngày.

          Nhà học không có bàn ghế, thầy ngồi trên sập, một bên là chồng sách theo các trình độ khác nhau.

          - Mới học thì có sách Tam Tự Kinh, Sơ học vấn tân…

          - Biết được vài chục chữ thì học Minh Đạo  Gia huấn, Luận ngữ, Tứ thư chính văn tiểu đối…

          - Học để thi Hương thì có sách Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử…

          - Trò giỏi thì học Ngũ Kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu…

          Chữ nào không đọc được, không hiểu được thì trò hỏi thầy. Cũng có thể trò học trước bảo trò học sau, trò lớn bảo trò bé nên tục ngữ có câu: “Học thầy không tày học bạn”.

          Trước mặt thầy có nghiên son và nghiên mực, đặc biệt là chiếc roi mây để đe nẹt kẻ mất trật tự, không chú ý học tập hoặc dốt nát.

          Cuối buổi học, trò nhỏ từng em lên kể bài với thầy. Đọc 1 câu giải nghĩa 1 câu, sai chữ nào thì bị thầy quật 1 roi vào đít. Trò lớn không phải kể bài mà nộp bài chép cho thầy chấm. Học sinh không đến nhà học và không về cùng một thời gian. Em nào tới sớm, thầy đã ngồi trên sập rồi thì học trước. Em nào tới muộn cứ việc chào thầy thật to rồi vào lớp. Học cho tới khi viết xong bài, thuộc được bài để kể lưu loát với thầy thì được về.

          Bởi vậy, lớp chữ Nho không có trống báo vào học hay tan lớp, không có bảng đen, không có bàn ghế cho học sinh ngồi, không dạy các môn khoa học. Nội dung sách giáo khoa chữ Nho chủ yếu thuyết lý về đạo đức theo phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn”

          Qua các câu chữ, học sinh có thể biết thêm về lịch sử, địa lý, cách trí, trí tri, sau này ra trường, nếu không thi đỗ làm quan thì cũng giỏi nho, y, lý, số, có chữ nghĩa làm các nghề Thầy mà sinh sống được.

          Người đã trải qua thi Hương rồi làm thầy Đồ thì được miễn đi phu, đi lính, đắp đê, mở đường làm tuần phiên hay tạp dịch ở làng xã.

          Học trò cùng một thầy dạy gọi là Đồng môn, cá thể gọi là Môn sinh. Các Môn sinh bầu ra một người làm Trưởng Tràng, một người làm Cán Tràng, một người làm Giám Tràng để quản lý lớp, giúp thầy điều hành công việc thuộc lớp hoc (Tràng được hiểu là Trường).

          Môn Sinh không phải đóng học phí, nhưng những ngày lễ, ngày tết phải có lễ vật đem đến nhà Thầy. Lễ vật thường là sản phẩm nông nghiệp như: gà, vịt, gạo, đỗ, lạc… kèm theo chè chau, thẻ hương, chai rượu…

          Các công việc trong nhà thầy như: gặt lúa, lợp lại nhà, tát nược, làm cỏ, ma chay, cưới xin, giỗ chạp, Trưởng Tràng có thể huy động Môn Sinh, Môn Đệ (học trò đàn em) đến giúp thầy theo nguyên tắc: “Hữu sư đệ tử phục kỳ lao, lao tất hữu công”. Nghĩa là “Thầy có việc, trò đến lao động giúp đỡ, lao động ắt có công”.

          Thầy ốm đau, Môn Sinh chia nhau đến chăm sóc thuốc thang. Thầy mất, Môn Sinh phải đóng góp tiền gạo cho Ban quản lý lớp tổ chức tang lễ. Trò phải để tang thầy 3 năm. Trong 3 năm ấy, không Môn Sinh nào nghĩ đến việc lớn như cưới gả, làm nhà, để giữ trọn hiếu nghĩa.

          Các con thầy, dù ít hay nhiều tuổi hơn Môn Sinh thì đều được các Môn Sinh gọi bằng Anh Chị.

          Vợ thầy Đồ cũng được Môn Sinh coi như mẹ mình. Sau này, Môn sinh được chức trọng quyền cao cũng đều ghi nhớ công ơn thầy. Khi họ đỗ đạt “Vinh quy bái tổ”, việc trước tiên là phải đến nhà thầy làm lễ rất trọng hậu.

          Đối với Thầy, trò nào cũng tâm niệm “Sống tết, chết giỗ” rất thành kính, thực hiện tiêu chí “Tôn sư trọng đạo”. Ngày mồng 3 Tết hàng năm, học trò cũ hay mới đều phải đến lễ gia tiên nhà thầy, lễ Tổ sư và thầy Đồ.

          Thời xưa làng, xã, tổng nào có trường học chữ Nho, thường văn minh, văn hiến, bộ mặt quê hương đều “xanh, sạch, đẹp”, cây đa, giếng nước, sân đình ghi nhiều dấu tích văn hoá. Ca dao, tục ngữ, dân ca biểu hiện đậm đà bản sắc dân tộc…

          Trường học chữ Nho ngày nay đã trở thành quá khứ nhưng truyền thống hiếu học “Trọng thầy mới được làm thầy, không thầy đố mày làm nên” mãi mãi ghi sâu tới các thế hệ tiếp theo.

          “Muốn sang thời bắc cầu Kiều

          Muốn con hay chữ thì yêu mến thầy”

Nguyễn Quý Đôn

 

Các tin đã đưa ngày: