Một số Lễ hội mùa xuân tiêu biểu của đất nước

30/07/2013

Mùa xuân đồng hành với mùa lễ hội. Mùa của những ước mong tốt đẹp nhất mà con người hướng tới. Đến với lễ hội, tâm linh con người gửi gắm đức tin về một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Không phải đến bây giờ mà nhiều năm nay, mỗi khi mùa xuân tới người Việt Nam lại nô nức đi lễ hội. Theo những người cao tuổi thì bên cạnh việc đi chúc tết đầu xuân, không ít gia đình đến chùa hái lộc, xin phúc từ sau Giao thừa. Như vậy, Lễ phải được tính từ Tâm của từng người mà ở đó ai cũng cảm thấy mình được làm việc thiện ngay từ phút đầu của năm mới.

Theo nhà sư Thích Thanh Tứ, ai cũng làm việc thiện bắt từ năm mới sẽ làm xã hội tốt đẹp hơn!Với người vô thần thì: các thánh thần tồn tại trong tâm thức mọi người luôn cùng với con người cộng cảm. Nhờ đó, mới có sự tồn tại của tâm linh và đây chính là đặc trưng nổi bật văn hoá lễ hội ngày xuân.

 

Trẩy hội ngày xuân 

 

 



 Trong đời sống cộng đồng làng xã Việt Nam, có lẽ không một nơi nào là không có lễ hội (hội làng). Lễ hội là hình ảnh thu nhỏ bộ mặt làng xã người Việt nói chung và từng làng, từng xóm nói riêng.

Hội làng là hiện thân của nền văn hóa đương đại (theo nhiều sử sách để lại thì nó được phát triển mạnh nhất vào thời Lý). Hội làng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của dân làng. Từ xa xưa, hội làng đã trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa dân gian, một món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân ở mọi vùng quê!

Sau một năm làm lụng trên ruộng đồng vất vả, mùa xuân đến, ngày hội làng là dịp để cho mọi người được nghỉ ngơi và đoàn tụ gia đình. Từ những người con được sinh ra ở làng quê thân yêu đã trưởng thành đi công tác trên khắp mọi miền đất nước, đến những người đang sống xa xôi nơi đất khách quê người... ngày hội làng cũng khát khao được về cội nguồn, đứng giữa đình làng, thành kính thắp một nén hương tưởng niệm!

Lễ hội mùa xuân của từng làng quê hiện nay thường được mở trong 3 ngày. Ngày đầu là lễ nhập tịch (mở cửa đình), ngày thứ hai (chính hội) gồm các nghi lễ như: Rước ngai kiệu, tế lễ, dâng hương và các trò vui... Ngày thứ ba: Làm lễ tế dã, hoặc rước lại (kết thúc hội). Trong những ngày “đại sự” của làng, nội dung chủ yếu được chia ra làm hai phần rõ rệt: Phần lễ và phần hội.

Trong phần nghi lễ, đoàn rước có tính chất “quy mô và hoành tráng nhất”. Tục lệ rước của các làng đều tương tự giống nhau. Đây có thể gọi là “Cuộc biểu dương lực lượng” của làng! Đoàn rước lớn có thể đông tới ba, bốn trăm người, được phân ra làm nhiều tiểu ban, mỗi tiểu ban đảm nhiệm một trọng trách. Tiểu ban phù giá: Khiêng ngai kiệu, chiêng trống, hương án, long đình... Tiểu ban hộ giá: Đi sau hương án, đồ thờ có cờ hàng báo, cờ ngũ hành và các đồ hộ quốc như trùy đồng, hồng trượng, phủ việt, rồi tiếp theo là tàn lọng uy nghi cùng đội nhạc cổ “lưu thủy” hòa tấu rộn rã.

Trong tiếng trống hội xuân rộn rã vang thúc giục, khắp xóm ngõ làng quê bừng lên một niềm vui nhộn nhịp. Người người tấp nập đội lễ ra đình, đền, chùa thành tâm cung kính. Với niềm tâm linh, hoài vọng tưởng nhớ người xưa, với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, ai đứng trước đình cũng muốn bày tỏ tấm lòng chân thật tôn kính. Mặc dù là đời sống tâm linh tín ngưỡng, song việc “làm lễ” trong ngày hội làng lại có ý nghĩa giáo dục cao! Nó làm cho con người ta gạt bỏ đi hết mọi điều ác mà hướng thiện. Làm tan biến những nỗi ưu tư, phiền muộn, lo lắng, những toan tính trong cuộc sống thường ngày để có được nỗi lòng thanh thản, vô tư, đồng thời cũng nhắc nhở cho bản thân và cũng răn dạy cho con cháu làng mình biết ơn và tôn kính các vị thánh hiền, tiền nhân đã có công với nước, với dân. Đó cũng là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương làng xóm mình. Tất cả mọi nghi lễ, rước, tế, dâng hương tưởng niệm, làm trò nhà phật... đều nói lên tấm lòng thành kính, biết ơn của dân làng đối với người xưa.

Phần lễ ở trong đình (đền, chùa) trang trọng và tôn nghiêm là vậy, ngược lại ở bên ngoài thì phần hội thật là vui nhộn, sôi nổi. Hội làng từ xa xưa vốn đã có rất nhiều trò vui như: Đánh đu, đấu vật, cướp cờ, chọi gà, cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền, cờ tướng... thu hút nhiều người tham gia, cổ vũ. Ngoài ra còn có các tiết mục như: Hát ả đào, hát trống quân, hát đối quan họ ở các nơi trên đình, đền, chùa và dưới thuyền, tối có “chiếu chèo” hoặc giao lưu văn nghệ, thơ ca... Nói chung có nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian truyền thống. Những chàng trai, cô gái làng quê, thường ngày là những thợ cày, thợ cấy khỏe mạnh, đảm đang, đêm hội làng hóa thân thành những ông hoàng, bà chúa oai phong, lộng lẫy hoặc trở thành những liền anh, liền chị quan họ đã hát hay, múa dẻo, lại rất thạo việc ruộng đồng.

Ngày nay, nhiều làng đã lên “phố” nhưng lễ hội làng vẫn không hề mất đi mà ngày càng được chú trọng phát triển hơn. Đặc biệt, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều di tích lịch sử văn hóa ở các địa phương đã được trùng tu và tôn tạo lại khang trang sạch đẹp; việc tổ chức lễ hội mùa xuân cũng rất rầm rộ, phong phú.

Trước những biến động của thời gian, các địa phương vẫn bảo tồn và duy trì lễ hội của làng mình.

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá, để phục dựng một nội dung lễ hội cổ truyền là một việc làm khó và tốn kém. Lớp người xưa đã từng tham gia tổ chức lễ hội nay đã mất hoặc đều đã ở độ tuổi “xưa nay hiếm”. Vì thế, kho tàng về vốn sống, sự hiểu biết về nếp sống, phong tục tập quán và đặc biệt là quy tắc xã hội - vốn văn hoá cổ truyền đặc sắc bị mai một! Bên cạnh đó, phần lớn các hình thức lễ và hội đã bị biến dạng để thích nghi với điều kiện, hoàn cảnh. Nhiều tập tục đã được lược bỏ, nhiều nghi thức đã được đơn giản hoá.

10 năm trở lại đây, các lễ hội nhiều làng đã có sắc thái trở lại. Nhiều trò trong hội được khôi phục, nhưng phần nghi thức rước kiệu và lễ tế chỉ là sự mô phỏng để người đương thời khả dĩ mường tượng lễ hội xưa.

Lễ hội ở Việt Nam, đặc biệt là vào mùa xuân, phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại, dày đặc về mật độ…là tiềm năng lớn để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, đặc biệt là du lịch gắn với tín ngưỡng, tôn giáo.

Theo thống kê của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), cả nước hiện có 8.902 lễ hội, trong đó có 7.005 lễ hội dân gian truyền thống, 1.399 lễ hội tôn giáo, 409 lễ hội lịch sử cách mạng, 25 lễ hội nhập từ nước ngoài vào... trong đó ít nhất có 24 tỉnh, thành phố có từ 100 lễ hội trở lên.

Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm của du lịch Việt Nam. Hơn nữa, chính sự phát triển của du lịch cũng góp phần rất quan trọng trong việc bảo tồn các lễ hội truyền thống cũng như khôi phục một số lễ hội đã bị mai một của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Tuy vậy, có một số hội làng còn mang tính chất đơn điệu, hình thức. Không có lễ nghi tưởng niệm tôn nghiêm để giáo dục ý thức truyền thống cho mọi người, mà nhiều trò chơi mang tính chất “cờ bạc trá hình” và sự hỗn loạn trong các dịch vụ ăn theo đã lấn át nét văn hóa truyền thống. 

Những nghi lễ ngày xuân của người Việt

Ngày xuân, người Việt Nam thưởng có những nghi lễ mang tính khởi đầu cho một năm mới tốt đẹp hơn. Bên cạnh những lễ nghi như: Lễ Động thổ, Lễ Thần Nông, Lễ Thượng Nguyên… thì Lễ Du xuân cũng được người Việt coi trọng.

Ðộng Thổ nghĩa là Ðộng đến đất. Vậy lễ Ðộng Thổ nghĩa là Ðộng đất, và trong khi động đất phải có lễ cúng Thổ Thần để trình xin bắt đầu động đến đất cho một năm mới.


Nguồn gốc lễ Ðộng thổ bắt đầu từ năm 113 trước Thiên Chúa giáng sinh.

Nguyên năm đó là năm Mậu Thìn, vua Hán Vũ Ðế thấy triều đình chỉ có tục tế trời mà không tế Ðất mới bàn cùng quần thần, và sau đó đặt ra nghi lễ Hậu Thổ, tức là Thần Ðất, còn gọi là xã tế.

Ðào một ao, ở giữa có một nền tròn: trên nền tròn có năm bệ, trên mỗi bệ đều có lễ Tam sinh gồm bò, dê, lợn.

Lễ phục của mấy vị chủ tế và bồi bái đều màu vàng.

Lễ Xã Tế đầu tiên do vua Hán Vũ Ðế chủ tế và cử hành tại đất Hoài Khưu gân sông Phàn.

Lễ Ðộng Thổ bắt đầu từ đó, nhưng đến năm vua Hán Thành Ðế lên ngôi, năm 32 trước Tây lịch có lệnh bãi bỏ lễ này.

Về sau vì có thiên tai xảy ra nên lễ Xã Tế lại được tái lập và tồn tại mãi về sau.

Lễ Xã Tế chia làm năm bậc dành cho Hoàng Ðế, các vua chư hầu và các quan đại phu trở xuống và có tác dụng khác nhau.

Xưa kia, tại Việt Nam lễ này cũng được tổ chức từ triều đình tới dân gian, nhưng về sau lễ này chỉ còn tồn tại trong dân chúng, tại triều đình, Thần Ðất đã có tế trong dịp tế Nam Giao.

Hàng năm, sau ngày mồng Ba Tết, tại các làng có làm lễ Ðộng Thổ để cho dân làng có thể Ðào bới cuốc xới được.

Chính ra thì ngày lễ Ðộng Thổ không nhất định là ngày nào, nhưng để giúp dân chúng tiện việc làm ăn, nhiều làng thường cử hành lễ này sau ba ngày Tết.

Các bậc kỳ lão và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế để cúng Thần Ðất. Lễ vật cũng gồm hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mã.

Trong buổi lễ, ông chủ tế với nguyên áo thụng xanh cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, tường trình với Thổ Thần xin cho dân làng được động thổ.

Sau buổi lễ Ðộng Thổ này, dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc xới trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ.

Trong ba ngày Tết, nếu không may có ai mệnh chung, tang gia phải quàn lại trong nhà, đợi lễ Ðộng Thổ xong mới được Ðào huyệt an táng.

Lễ Thần Nông

Nguồn gốc

Thần Nông tức là vị Hoàng Ðế Trung Hoa đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch Ðiền hoặc Hạ Ðiền.

Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong sự được mùa và nghề nông phát đạt.

Trên các quyển lịch hàng năm, người ta thường vễ một mục đồng giắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con Trâu tượng trưng cho nghề Nông.

Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó tốt hay xấu.

Năm nào được mùa, Thần Nông giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày một chân. Con Trâu đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, vàng đen trắng xanh, đỏ đúng với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Hàng năm xưa có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình.

Nghi thức lễ tế Thần Nông

Lễ tế Thần Nông hàng năm cử hành vào ngày Lập Xuân, bởi vậy nên tế Thần Nông còn được gọi là Tế Xuân.

Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng, hàng năm sau tiết Ðông Chí, tòa Khâm thiên giám phải lo sửa soạn việc tế Thần Nông. Các quan cùng nhau họp để nặn trâu và tượng Thần Nông.

Trước ngày Lập Xuân hai ngày, tại gần cửa Ðông Ba (ngày nay tức là cửa chính Ðông), các quan Khâm thiên giám cho lập một cái Ðài hướng Ðông. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đưa tới lưu tại phủ Thừa Thiên để ngày hôm sau các quan trong phủ mới rước từ phủ tới Ðài. Các quan vận lễ phục, có lính vác gươm dáo, tàn lọng, cờ quạt đi theo.

Tời Ðài thì một lễ đơn giản được cử hành như có ý để trình với thần linh tượng và trâu. Sau đó, trâu và tượng Thần Nông lại được khiêng về kho. Hôm Tế Xuân lại được rước ra Ðài, nhưng lần này đi rước là các quan bộ Lễ và các quan tỉnh Thừa Thiên. Khi đám rước đi qua cung vua, một viên Thái Giám vào tâu Vua biết. Sau đó, đám rước lại tiếp tục đi và khi đi qua bộ Lễ, một viên quan đánh vào mông Trâu ba roi, có ý thôi thúc cho trâu phải làm việc.

Tới Ðài các quan làm lễ tế Thần Nông theo như nghi lễ các cuộc tế khác. Tế Thần Nông xong, Trâu và tượng Thần Nông lại có quân lính khiêng cất vào kho.

Tại các tỉnh, trong ngày Lập Xuân cũng có lễ tế Thần Nông, và lễ cũng được sửa soạn từ sau ngày Ðông Chí. Các quan tỉnh phụ trách việc hành lễ. Trâu và tượng Thần Nông cũng được đem chôn sau buổi lễ như tại Kinh đô.

Lễ Thượng Nguyên

Lễ Thượng Nguyên vào rằm tháng Giêng. Từ Triều đình đến dân chúng đều có lễ Phật trong ngày này.

Tục ta tin rằng trong ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại các chùa để chứng tỏ lòng thành của các tín đồ Phật Giáo. Trong dịp này, chùa nào cũng đông người tới lễ bái. Các cụ bà Ðã quy y cũng nhân ngày lễ này, đến chùa tụng kinh niệm Phật. Các cụ vừa lần tràng hạt vừa kể lại sự tích của đức Phật và chư bồ tát.

Nguồn gốc

Theo đạo Phật, ngày mùng Một và ngày Rằm mỗi tháng được coi là ngày Phật, các tín đồ Phật Giáo trong những ngày này đều rủ nhau đi lễ chùa.

Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật. Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ.

Tết cũng còn có một tên nữa là Tết Nguyên Tiêu. Nhân tết này, ban Ðêm tại kinh thành và các thị xã có chăng Ðèn kết hoa. Ở các nơi gần sông như Giang Châu, Tô Châu gần sông nước có cuộc bơi thuyền.

Thuyền được trang hoàng muôn màu sắc, thắp sáng, hoa treo rực rỡ. Tại các hí trường và các Công viên có nhiều trò vui như đánh gươm, cưỡi ngựa, nhảy múa...Các văn nhân trong Ðêm Nguyên Tiêu thường họp nhau uống rượu thưởng xuân, vịnh ngâm thơ phú.

Theo các nhà thuật số, ngày Rằm tháng Giêng còn là ngày vía Thiên quan. Nhân ngày này, tại các đền chùa có làm lễ dâng sao, nghĩa là cúng các vị sao để giải trừ tai ách quanh năm.

Cúng lễ dâng sao, người ta lập Ðàn tràng tam cấp, trên cúng Trời Phật, Tiên Thánh, giữa cúng các vị sao thủ mạng, ở dưới cúng bố thí chúng sinh. Mỗi năm mỗi người có một vị sao thủ mạng.

Lễ vật cúng dâng sao dùng hoa quả, trầu cau, xôi, chè rượu, vàng mã và cả hình nhân nữa.

Lễ Khai hạ

Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng Giêng là ngày lễ Hạ nêu.

Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón Tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà Ðể trừ ma quỷ, nay được hạ xuống.

Lễ Hạ Nêu còn gọi là Lễ Khai Hạ. Mọi công việc thường xuyên, người ta chỉ bắt đầu lại sau ngày Lễ này, tuy tại vùng quê người ta vẫn còn ăn chơi, vì tháng Giêng là tháng ăn chơi, và vì lúc đó công việc đồng áng đã vơi.

Sự tích cây nêu

Tục truyền ngày xưa, khi Tết đến, bọn ma quỷ hay tối quấy nhiễu dân gian. Dân gian kêu Ðức Phật, Phật liền ra tay bắt bọn ma quỷ. Bọn ma quỷ sợ hãi đức Phật, không dám quấy nhiễu, nhưng chúng hỏi ở đâu là Ðất của Phật để chúng tránh xa. Phật đáp: Ở đâu có phướn, có chuông, có khánh, đấy là Ðất của Phật.

Ma quỷ lại hỏi địa giới của Phật đến đâu và lấy gì làm phân biệt. Phật bảo chúng là ở đâu có vết vôi trắng là Ðịa giới của Phật.

Sau đó, ngày Tết, người ta dựng cây, trên ngọn nêu có treo khánh sành và phướn giấy, và ở trước cửa nhà có rắc vôi bột thành hình cung tên để trừ ma quỷ. Ma quỷ thấy cây nêu và vôi trắng không dám phạm tới vì sợ đức Phật

Nguồn gốc lễ Khai Hạ

Lễ Khai hạ, người Trung Hoa gọi là lễ Nhân nhật, nghĩa là Ngày của Người.

Theo sách Phương sóc chiêm thú thì tám ngày đầu năm mỗi ngày thuộc riêng về một giống:

Mồng 1 thuộc giống Gà, Mồng 2 - giống Chó, Mồng 3 - Giống Lợn, Mồng 4 - Giống Dê, Mồng 5 –

Giống Trâu, Mồng 6 - Giống Ngựa, Mồng 7 - Giống Người nên được gọi là Nhân nhật, Mồng 8 - Giống Thóc.

Nhân ngày Nhân nhật là ngày của giống Người nên người ta làm lễ cúng Trời Ðất để đánh dấu ngày đó.

Người Việt Nam nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng Trời Ðất, còn sửa soạn lễ cúng Gia Tiên, cúng Thổ Công và cúng thần Tài. Thường sau lễ này, những người buôn bán mới bắt đầu đi chợ, mở cửa hàng.

Lễ Khai Hạ ngày nay

Ngày nay, nhiều nơi không còn lễ Khai hạ nữa, tuy nhiên tại các gia đình Việt Nam nhất là những gia đình buôn bán, ngày mồng 7 tháng Giêng vẫn có cúng lễ, cầu buôn may bán đắt, phát đạt, thịnh vượng quanh năm. Người ta cũng cúng gia tiên, cúng Thổ Công, cúng Thần tài và một số người vẫn cúng Trời, Ðất như cổ lệ.

Lễ Du Xuân

Lễ Du Xuân là lễ nhà vua ngự du lúc xuân sang.

Lễ có từ đời nhà Lê. Ngày mồng một tháng Giêng, sau khi các hoàng thân và các quan chúc mừng, nhà vua ngự du xuân có các quan văn võ đi theo. Ngài mặc áo Hoàng Bào cỡi ngựa đi trước. Các quan, lính tráng mang cờ quạt khí giới theo sau.

Lễ Du Xuân của nhà vua, cũng giống như việc người dân xuất hành, vị bộ Lễ phải chọn hướng để nhà Vua đi, ngõ hầu quanh năm trong nước được thái bình, khang thịnh.

Lễ Khai ấn

Quang cảnh lễ khai ấn đền Trần

Các ấn đã được lau chùi trong năm, ngoài xuân bộ Lễ chọn ngày lành, giờ tốt để làm lễ Khai ấn nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn chỉ dụ.

Thường bản văn đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành. Tục khai ấn này, tại các tỉnh, huyện, xã, mỗi viên chức có ấn đều chọn ngày khai ấn.

Xưa, người ta có sửa lễ cúng vị thần giữ về ấn tín trong dịp lễ khai ấn.

Lễ Khai bút

Đầu năm mới, sau lễ cúng đón giao thừa, ngày xưa, các viên quan, các nhà giáo, nhà sư, các môn đồ chuẩn bị án thư, nghiên mực, bút lông và giấy hoặc lụa để làm lễ khai bút đầu năm. Mực thường dùng là mực Tàu thơm đen lánh được mài kỹ và sau đó người khai bút sẽ thảo lên giấy trắng hoặc lụa trắng. Bên án thư, có người đặt một đỉnh trầm ngát hương bay toả lẫn với hương xuân giao mùa ngoài cửa.



Nội dung bài khai bút thường là một câu đối, một bài thơ đường luật ứng tác hoặc một câu danh ngôn, một lời chúc mọi người, có khi là một lời tự chúc với bản thân như một tâm nguyện trước năm mới. Bài khai bút sau đó được đặt ở một nơi trang trọng, có khi là đầu một cuốn sổ nhật ký, một án thư, có khi được treo trang trọng trong thư phòng hoặc phòng khách... trong suốt năm mới ấy. Lễ khai bút là một phong tục trang nghiêm và thiêng liêng với mong muốn hướng tới một thế giới tinh thần rông lớn, bày tỏ nguyện vọng kẻ sĩ lập ngôn cao đẹp của người trí thức trước cuộc đời.

Lễ hội ngày xuân trên 3 miền đất nước

Khắp 3 miền: Bắc- Trung- Nam, đâu đâu cũng có lễ hội ngày xuân. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một số lễ hội điển hình của các vùng.

Miền Bắc

Lễ hội xuống đồng

Thời gian: Ngày Thìn tháng Giêng

Địa điểm: xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Lễ hội xuống đồng



Vào ngày này, đồng bào các dân tộc Giáy, H'mông, Dao...tổ chức tế lễ ở thung lũng Mường Hoa. Lễ hội thu hút du khách trong và ngoài nước đến dự. Sau những màn ca hát của các cô gái dân tộc, thầy cúng dâng lễ vật cho trời đất, thần lúa cầu mong mùa màng bội thu. Sau lễ, tất cả mọi người cùng tham gia các trò chơi truyền thống như bắn cung, nỏ, đua ngựa...

Hội rước pháo làng Đồng Kỵ

Thời gian: Sáng mùng Bốn đến mùng Sáu Tết Âm lịch

Địa điểm: Làng Đồng Kỵ, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 20km về hướng Bắc.

Trong ngày hội, khách sẽ được nhìn thấy hai quả pháo lớn có đường kính hơn 0,5m trang trí sặc sỡ các hình tứ linh long, lân, quy, phụng. Hai quả pháo này được đặt trên kiệu có lọng vàng che đầu và rước từ nhà trưởng đám ra đình cùng với đoàn tế hàng trăm người. Đám rước đi đến đâu, tiếng kèn, trống, reo hò của dân làng và khách thập phương rộn rã đến đó.

Ngoài rước pháo, lễ hội còn có đấu cờ người, vật cổ truyền, chọi gà và biểu diễn các canh hát quan họ, các tích tuồng cổ...

Lễ hội rước lợn


Thời gian: Diễn ra vào đêm 13 tháng Giêng.

Địa điểm: Làng La Phù, huyện Hoài Đức. Từ trung tâm Hà Nội, bạn đến Hà Đông, qua cầu Hà Đông, rẽ phải, đi khoảng 7km là đến làng.

Theo truyền thống, hội rước lợn là dịp tưởng nhớ Tĩnh Quốc Tam Lang, vị anh hùng của làng La Phù dưới thời Hùng Vương, mở tiệc khao quân trước khi lên đường đánh giặc. Tích xưa truyền lại, khi đó người dân trong vùng mang lợn đến dâng để tỏ lòng biết ơn và gọi ông là Thành Hoàng.



Gần hai mươi con lợn nặng trên dưới hai tạ mà dân làng gọi là "ông Lợn", sau quá trình chăm sóc đặc biệt, được mổ thịt, trang trí đẹp rồi từng đoàn rước lợn vào đình làng tế thần. Các cụ trong làng cho biết, lợn giống được phân công cho từng hộ trong làng nuôi từ đầu năm với chế độ đặc biệt. Giải thưởng không nặng về vật chất nhưng có giá trị về tinh thần và tâm linh rất lớn cho cả xóm có lợn đoạt giải.

Ngay từ sáng ngày 13 tháng Giêng, toàn bộ các gia đình có lợn tế lễ bắt đầu rục rịch mổ xẻ, làm thịt và trang trí. 18 giờ cùng ngày rước lợn vào đình làng, 0 giờ ngày 14 bắt đầu nghi thức tế lễ và đến 6 giờ sáng tiến hành nghi thức xẻ lộc cho tất cả các hộ dân trong làng.

Hội Lim

Thời gian: Diễn ra ngày 13 tháng Giêng.

Địa điểm: Làng Lim, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, cách Hà nội khoảng 30km về hướng bắc. Từ trung tâm Hà Nội, bạn có thể đi xe máy hoặc ô tô qua cầu Chương Dương rồi thẳng tiến đến thành phố Bắc Ninh. Hoặc bạn có thể đón xe buýt từ cầu Chương Dương để đến đồi Lim.

Đây là lễ hội đặc sắc của vùng quê quan họ. Du khách thập phương cư vương vấn mãi câu hát "Người ơi, người ở đừng về"... Do vậy, hàng năm cứ đến ngày 12, 13 tháng Giêng, không hẹn mà gặp, người người nô nức kéo về làng Lim trẩy hội.

  Hát quan họ tại Hội Lim



Đồi Lim, trung tâm lễ hội, đã tưng bừng với các lán hát quan họ và trò chơi dân gian, cùng với việc duy trì các trò chơi truyền thống như thi tổ tôm điểm, đu tiên, vật, đập niêu, thi cờ người, dệt cửi, trò bịt mắt bắt dê và kéo co. Khi đến đình Lim, bạn sẽ bắt gặp các liền anh, liền chị trong thuyền rồng hát quan họ phục vụ du khách thập phương. Chắc chắn, bạn sẽ hoa mắt trước những bóng áo dài tứ thân đầy màu sắc, còn tâm hồn thư thả theo nhịp điệu của các câu hát và âm nhạc.

Chính hội là ngày 13 tháng Giêng nhưng bạn nên đến từ ngày 12. Buổi tối, bạn có thể vào trong làng Lim thưởng thức các canh hát quan họ được tổ chức tại nhà các liền anh, liền chị trong làng.

Các canh hát ở đây diễn ra cả đêm và hát theo lối cổ nguyên gốc, không có nhạc đệm. Khách du lịch đến đây đều được coi là thượng khách, bạn có thể vào bất cứ nhà nào tổ chức hát để xem mà không phải trả tiền.

Ngoài ra bạn còn được mời ăn cháo gà, uống rượu và nghe hát cả đêm. Nếu mệt, bạn có thể ngủ lại. Đến sáng hôm sau, bạn thức dậy sớm để ra đình làng xem hội rước.

Miền Trung

Lễ hội đình làng cổ Tuý Loan

Thời gian: Diễn ra vào ngày 9 và 10 tháng Giêng.

Địa điểm: Làng Tuý Loan nằm về hướng Tây Nam của thành phố Đà Nẵng. Bạn đi xe máy hoặc ô tô theo quốc lộ 14B khoảng 15km sẽ đến địa phận làng cổ.

Làng cổ Tuý Loan đã có trên 500 năm tuổi, đình làng cũng đã có trên 100 năm.

Hội đình làng Túy Loan



Tham gia ngày hội, bạn sẽ chứng kiến lễ rước sắc phong, nhạc lễ dâng hương tế đình. Người dân địa phương làm lễ để nhắc con cháu tưởng nhớ năm vị tiền hiền Đặng, Lâm, Nguyễn, Trần, Lê. Những vị này tuân chiếu vua Lê Thánh Tôn đi mở mang bờ cõi về phương Nam (năm Hồng Đức nguyên niên 1470), dừng chân chọn nơi đây để khai khẩn làm ăn và đặt tên cho làng là Tuý Loan. Tham dự xong phần lễ, bạn cùng dân làng tham gia các trò chơi vui nhộn như đẩy gậy, vật tay, kéo co diễn ra ngay trước sân đình... Ngày hội còn có cuộc thi nướng bánh tráng. Bánh tráng nướng là đặc sản nổi tiếng làng Tuý Loan. Bạn cũng có thể xem nhiều người dân thi tài trong các cuộc thi như gói bánh tét, đi xe đạp chậm...

Lễ hội đua voi

Thời gian: Diễn ra vào mùa xuân, thường vào tháng Ba âm lịch

Địa điểm: Buôn Đôn (Bản Đôn), Đắk Lắk

Hội đua voi truyền thống của người M'nông ở Buôn Mê Thuột nhằm tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi của người dân địa phương. Voi dàn hàng ngang khoảng mười con hoặc nhiều hơn. Trong sự reo hò, cổ vũ của khán giả, đàn voi đua như hăng hái hơn. Chúng đưa vòi lên cao rồi hạ xuống chào mọi người. Sau một hồi tù và vang lên báo lệnh xuất phát, đàn voi chạy thẳng về phía trước. Đường đua thường khoảng 400-500 mét.

Hội Đua voi


Buôn Đôn thuộc xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, cách thành phố Buôn Mê Thuột khoảng 42km. Đến đây, bạn sẽ có dịp thưởng thức các món ăn nấu bằng cá do dân địa phương bắt từ sông Sê-vê-pôk và hồ Lắk. Thịt cá voi có vị ngọt và chắc hơn so với cá sông hồ ở đồng bằng.

Lễ hội vua Mai


Thời gian: Diễn ra khoảng từ ngày 13 đến 17 tháng Giêng.

Địa điểm: Đền vua Mai, huyện Nam Đàn, Nghệ An.

Lễ hội đền vua Mai được người dân tổ chức để tưởng nhớ công đức của Mai Hắc Đế cùng các tướng lĩnh của ông.

Lễ hội đền Vua Mai



Lễ hội gồm lễ yết cáo, lễ rước, lễ đại tế, lễ tạ, lễ khai hội và những hoạt động của các thanh niên như leo cột, đẩy gậy, thi chế biến các món ăn đặc sản như bánh đúc, canh hến, kẹo cu đơ, thi đấu vật, thi đua thuyền, thi đấu bóng chuyền, cờ thế, chọi gà, chơi đu, thi hát dân ca xứ Nghệ gắn với thi Người đẹp sông Lam...Ngoài việc tham gia ngày hội, bạn có thể tham quan một số di tích tiêu biểu khác như di tích Kim Liên, nhà lưu niệm cụ Phan Bội Châu, đình Hoàng Sơn, đền Đức Ông, mộ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp...

Miền Nam

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu

Thời gian: Từ ngày 13 đến 15 tháng Giêng.

Địa điểm: Chùa Bà nằm ngay trung tâm thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, cách TP. HCM khoảng 35km.

Đêm 13 tháng Giêng, người dân bày lễ ra trước nhà để cúng tế, chuẩn bị cho lễ rước Bà ngày hôm sau. Dân chúng các vùng lân cận cũng đổ về đây khá đông, nhiều nhất là TP. HCM. Sáng ngày 14, lễ rước Bà được tổ chức theo nghi thức cổ truyền: kiệu Bà được rước đi khắp các đường phố cùng với những đội múa lân, sư tử, rồng, cờ xí ngợp trời. Đội múa lân, sư tử ở các nơi về thi múa, hoá trang mặt nạ, vừa múa vừa đấu võ. Cuối hội là lễ rước kiệu Bà rầm rộ diễu hành qua các phố trong thị xã.

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu


Ngoài tham gia lễ hội rước Bà, bạn và gia đình còn có thể đến khu du lịch Đại Nam, cách chùa chừng 2km với các công trình như đền đài, khu vui chơi giải trí, vườn bách thú...

Du xuân, thoả mãn niềm ngưỡng vọng của mọi người về tâm linh và thưởng hội. Các lễ –hội đầu xuân đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc để ngày mai họ trở lại cuộc sống lo toan, hẹn mùa lễ hội sau khi xuân lại tới…


Lễ hội xuân đặc sắc ở Hà Nội

Chỉ quanh Hà Nội cũng có biết bao làng đang vào hội. Này là hội làng Đồng Kỵ ngày mồng 4 tết ở Từ Sơn, Bắc Ninh náo nhiệt rộn ràng với lễ chen rước quan đám. Này là hội tịch điền Đọi Sơn ở Duy Tiên, Hà Nam với điểm nhấn ấn tượng là cuộc thi vẽ và trang trí trâu vô cùng độc đáo. Hội làng Cự Đà (Hà Nội) ngày giáp rằm, hội đền Gióng ngày mồng 6, hội Lim Kinh Bắc ngày 12 và 13 tháng giêng. Người làm ăn thì say sưa với hội chợ Viềng (Nam Định), lễ Bà Chúa Kho (Bắc Ninh) và đền Bắc Lệ (Lạng Sơn) mong một năm kinh doanh phát đạt.

Đầu năm không thể không đến thăm chùa Trấn Quốc, ngôi chùa cổ nhất thủ đô, mang đậm dấu ấn dựng nước và giữ nước. Sau khi viếng cảnh chùa hãy thăm đền Trấn Vũ, gần đó là chùa Ngũ Xã với pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng 10 tấn. Khách du lịch đến đây thường ghé thăm chùa Một Cột và Văn Miếu gần đó để xin một chữ Nho trên giấy điều.



Tại hồ Hoàn Kiếm, bạn hãy vào đền Ngọc Sơn tưởng nhớ Trần Hưng Đạo, đây cũng là nơi cầu việc học bởi có thờ Văn Xương và đài Nghiên tháp Bút soi bóng. Trong khu phố cổ có đền Bạch Mã là vị thần chủ của Hà Nội với lễ hội vào ngày 13-2 (âm lịch).

Phía tây nam Hà Nội có gò Đống Đa, gần đó có chùa Phúc Khánh được nhiều người lễ bái, nghe giảng Phật pháp. Trên đường Láng có chùa Láng, chùa Nền, chùa Duệ gắn liền với huyền thoại thiền sư Từ Đạo Hạnh cùng lễ hội vào 7-3 (ÂL). Tiện đường bạn có thể ghé thăm đền Voi Phục, trấn tây Hà Nội.

Phía đông nam là đền Hai Bà Trưng, lễ hội được tổ chức vào 6-2 (ÂL). Gần đó là chùa Vua với lễ hội cờ tướng từ 6 đến 10-1 (ÂL). Không xa chùa Vua là chùa Chân Tiên, chùa Tào Sách, nếu có thêm thời gian bạn hãy xuôi đường Bạch Mai đến thăm chùa Liên Phái, ngôi tổ đình Tịnh Độ Tông với ngôi tháp chín tầng.

Về phía nam nội thành có chùa Trầm nằm tựa núi đá, động Long Tiên với lễ hội vào 2-2 (ÂL). Từ đây qua chùa Vô Vi đến chùa Trăm Gian có lễ hội vào 6-1 (ÂL). Đi tiếp theo đường 80 sẽ qua đình So, rồi đến chùa và hang núi Hoàng Xá. Từ đây có thể đến chùa Thầy và chùa Tây Phương nổi tiếng, nơi từ đầu xuân đã dập dìu du khách dù chính hội là 7-3 (ÂL).



Đông nam Hà Nội, dọc sông Hồng có đền Đa Hòa và Dạ Trạch thờ Chử Đồng Tử, lễ hội 10-2 (ÂL) và bơi thuyền trên sông Hồng. Xuôi theo đường đê đến với phố Hiến, Văn miếu Xích Đằng, đền Mẫu nổi tiếng linh thiêng. Cũng gần đó là đền Tân La và đền Lảnh, hai ngôi đền linh ứng rất đông người đi lễ.

Phía đông Hà Nội, theo quốc lộ 5 có đền Bà Tấm thờ thái hậu Ỷ Lan, lễ hội 20-2 (ÂL), rồi chùa Sủi, chùa Keo, chùa Bút Tháp tuyệt đẹp dọc dòng sông Đuống, chùa Phật Tích với pho tượng Phật bằng đá quý giá bậc nhất VN. Bạn hãy ghé thăm làng tranh Đông Hồ mang về nét xuân cổ truyền trên giấy điệp.

Về hướng đông bắc, theo quốc lộ 1 cũ nổi tiếng nhất có hội Lim vào ngày 13-1 (ÂL) hằng năm. Trên đường đi hãy ghé thăm đình Lệ Mật, chùa Nành, rồi đền Đô thờ tám vị vua triều Lý, chùa Tiêu Sơn nơi Lý Thái Tổ đã học tập với thiền sư Vạn Hạnh. Từ hội Lim, khách hành hương còn đến thành phố Bắc Ninh, thăm đền Bà Chúa Kho cầu lộc một năm mua bán may mắn.

Về phía bắc Hà Nội hãy đến thăm thành Cổ Loa, chùa Kim Sơn, miếu Mỵ Châu với lễ hội vào 6-1 (ÂL). Từ đây, bạn có thể đến thăm đền Sái thờ thần Trấn Vũ, rồi theo quốc lộ 3 rẽ vào rừng thông dưới chân núi Sóc thăm đền Gióng danh tiếng. Nơi đây còn có ngôi chùa Sóc Thiên Vương với pho tượng Phật bằng đồng rất lớn.

Những hội hè đình đám luôn được tổ chức với nhiều trò chơi dân gian thú vị, đặc trưng theo từng vùng miền. Trẩy hội đầu xuân luôn là một hình thức sinh hoạt văn hóa quý giá và đáng trân trọng, là bước khởi đầu tốt đẹp cho một năm may mắn như mong ước của con người.

Lễ hội Xuân Tân Mão

Lễ hội ngày nay đang trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần trong đời sống cộng đồng. Lễ hội là một loại hình thiết chế văn hoá, góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, gắn với tín ngưỡng, tâm linh, giáo dục đạo lý, cố kết cộng đồng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.

Lễ hội Xuân Tân Mão 2011 sẽ chính thức bắt đầu từ những thời khắc đầu tiên của năm mới Tân Mão.

Rút kinh nghiệm những lễ hội xuân từ các năm trước, nhằm chuẩn bị tốt cho mùa lễ hội Tân Mão, đầu tháng 1 vừa qua, Đoàn công tác của Bộ VHTTDL do các Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn, Lê Khánh Hải dẫn đầu đã đến làm việc và kiểm tra Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hải Dương.

Qua các buổi làm việc với lãnh đạo các địa phương và kiểm tra tình hình thực tế tại Đền Và, chùa Mía, thành cổ Sơn Tây (Hà Nội), đền Âu Cơ, đền Hùng (Phú Thọ), Đoàn công tác của Bộ VHTTDL ghi nhận sự cố gắng của lãnh đạo các địa phương và trực tiếp là ngành VHTTDL trong việc thực hiện nếp sống văn minh, quản lý, tổ chức lễ hội, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá.

Trước những kết quả này, Đoàn đề nghị lãnh đạo các tỉnh, thành quan tâm chỉ đạo và ngành VHTTDL, địa phương tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, việc lễ hội; đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức các ngày kỷ niệm, nghi thức trao tặng, đón nhận danh hiệu vinh dự Nhà nước và các hình thức khen thưởng cao...

Việc tổ chức lễ hội tại các địa phương phải đúng quy định, mục đích, bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống. Tổ chức lễ hội phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo, cần sự thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, đồng bộ của các cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của địa phương; tăng cường vai trò trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa các cấp, đi đôi với việc không ngừng phát huy tính chủ động, sáng tạo của cộng đồng. Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức của các cấp về ý nghĩa và giá trị lịch sử văn hóa của Lễ hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh trong dịp Tết và mùa lễ hội. Chấn chỉnh các hành vi tiêu cực, phi văn hóa, hoạt động mê tín dị đoan, tình trạng lộn xộn tại các khu dịch vụ trên địa bàn tổ chức lễ hội. Tại các di tích, nơi thờ tự, thực hành tín ngưỡng, cần có hướng dẫn cụ thể việc đặt hòm công đức; không để xảy ra tình trạng để tiền công đức, tiền “giọt dầu”, tiền cầu lộc gây phản cảm, thiếu mỹ quan và làm ảnh hưởng đến di tích. Quản lý hàng quán, bãi để xe, giữ gìn vệ sinh, môi trường tại các khu du lịch, điểm du lịch và khu vực lễ hội. Các địa phương phải quản lý chặt chẽ việc quy hoạch, sắp xếp các hoạt động dịch vụ, vui chơi giải trí hợp lý.

Để tăng cường tính chủ động và có phương án tổ chức phù hợp, Đoàn công tác của Bộ VHTTDL đặc biệt lưu ý các địa phương chú trọng công tác dự báo lượng khách mùa lễ hội năm 2011, vì thực tế cho thấy nhiều năm trước do không chú trọng công tác này nên nhiều lễ hội diễn ra lộn xộn gây mất ANTT.

Đoàn công tác cũng đề nghị lãnh đạo các địa phương cùng các cơ quan chức năng quan tâm chỉ đạo, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, gây phản ứng trong dư luận, qua đó để lễ hội xuân Tân Mão thực sự là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.

(theo Cinet)

Các tin đã đưa ngày: