Vài quan niệm cổ truyền về năm Tân Mão

01/08/2013

Ngày mồng 1 Tết Tân Mão ứng với ngày mồng 3 tháng 2 dương lịch 2011, thuộc tháng Canh Dần, cửu tinh Bát Bạch, can chi Kỷ Sửu. Về ngũ hành, năm Tân Mão nhằm hành mộc, cụ thể là Tùng Bách Mộc, loại cây cứng cỏi, bất chấp thời tiết, bất chấp đất đai khô cằn, cheo leo, vẫn vươn lên xanh tốt, sống hàng ngàn tuổi. Nguyễn Công Trứ đã từng miêu tả cây thông (Tùng, Bách) mang khí tiết người quân tử.

 

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông
Còn Nguyễn Trãi lại ví cây thông với bậc khai quốc công thần:
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai dặng già làm khách
Tài đống lương cao, ắt cả dùng


Tùng Bách Mộc chủ yếu sống trên núi, trên đồi, nếu đem trồng bên đường đi thì bị còi cọc, hoặc không tồn tại, vì khắc Lộ Bàng Thổ. Bởi thế, cổ nhân quan niệm người thuộc hai mạng này không tổ chức hôn phối được.
Người sinh năm Tân Mão, nhằm vào dương lịch 1951, 2011 và 2071. Vật tượng (con giáp) là Mèo. Nhưng người Trung Quốc khác với ta, coi vật tượng là thỏ.
Tân là tượng mùa thu, vạn vật sinh thành và đã thuần thục. Nó có vị cay. Tân là thừa Canh, tượng trưng cho đùi vế con người. Các việc như ngoại giao, xuất ngoại, du lịch, đá bóng năm nay thu được thắng lợi.
Mão biểu tượng của sự tốt tươi, sáng thịnh. Vạn vật vươn lên khi có ánh mặt trời. Tháng hai là thiên môn, hình dung của sự mở cửa. Năm nay, nhiều nhà đầu tư cỡ lớn xin hội nhập vào nước ta và nhiều doanh nhân Việt Nam khởi phát ở nước ngoài.

- Xét về địa chi lục hợp, người xưa cho rằng Mão hợp Tuất
- Xét về địa chi Tam hợp, thì Mão hợp Hợi và Mùi
- Nói về xung và phá, thì Mão xung Dậu, phá Thìn
Về Thiên can thì Tân (âm) hợp Bính (Dương). Tân xung Đinh vì cùng Can âm và Hoả khắc Kim.
Năm Tân Mão thuộc Quẻ Ly “ly vi hoả” là lửa, sáng, ứng vào 2 điều:
Một là vinh quang, rạng rỡ, sáng sủa
Hai là đề phòng hoả hoạn, cháy nổ
Nếu lập Bát quái thì đặt một vạch Dương , lên Thiếu Dương, ta có quẻ Ly.
Nước ta, dưới thời vua Bảo Đại, có quốc kỳ quẻ Ly, nền vàng các vạch (Hào) màu đỏ, tượng trưng cho Phương Đông. Sau, xét lại, nước ta là nước Nam, Đại Nam, Việt Nam phải ở phương Nam mới đúng, quốc kỳ lại đổi ra quẻ Càn, có 3 vạch song song với nhau, tượng trưng cho ba miền (Bắc - Trung - Nam). Chính xác ra, thì nước ta ở vào Đông Nam á. Năm nay, mọi việc đều tiến triển, nối tiếp lợi thế của năm Canh Dần và đại lễ 1.000 năm Thăng Long. Cờ đỏ sao vàng rực rỡ cả bầu trời Phương Nam, mang hồn nước uy linh văn trị, võ công.
Nói về tuổi Tân Mão, nếu là gái, sinh mùa đông, mùa xuân rất thuận, vừa giàu vừa sang, sinh mùa thu, mùa hạ thì lỗi mùa, hay lỡ dở, xung khắc.
Nếu là trai, sinh nhằm mùa hạ, mùa thu thì như Mạc Đăng Dung, tìm cách diệt trừ phe phái đối lập, thâu tóm quyền hành vào tay mình, rút cục suốt đời gian nan, lận đận. Ngược lại, ăn ở từ tâm, tu nhân tích đức thì hưởng thọ lâu dài.
Sinh con năm Mão, nên đặt tên có:
Bộ Khẩu: Như: triệu, khả, sử, hiệp, hợp, cát, đồng, danh, hậu, lại, hướng, quân, chu, lữ, hoà, phẩm, viên, triết, vấn, thiện, kiều, hiệu, vịnh, khả...
Bộ Thảo đầu, như: Bồng, hoàn, dụ, thược, chi, giới, kỳ, hoa, phương, chỉ, vân, cần, uyển, linh, đài, dĩ, cự, thiêm, anh, lệ, giao, hồi, trà, thảo.
Tránh trong tên có chữ Đại, vì mèo, thỏ chỉ là giống thú nhỏ, trong tên có chữ Đại, dẫn đến tính cách xưng hùng, xưng bá, ngang tàng, bạo ngược. Trong tên có bộ Tâm thì hung hãn. Trong tên có bộ Nhân sẽ trở nên nhút nhát, hay ẩn tránh. Vì xung khắc với tuổi Dậu, nên trong tên không nên có chữ Dậu. Tương khắc với tuổi Thìn, nên trong tên không có được chữ Thìn. Tên mỗi con người đều ảnh hưởng tới khí chất, tính cách tài vận, sự nghiệp cả một đời, nên không thể tuỳ tiện được.
Khi xưa, trẻ sơ sinh thường được đặt tên xấu xí để tránh quở quang, tránh quan ôn, quan dịch xem xét, ma quỷ quấy nhiễu, làm cho các cháu mang tâm lý tự ti, xấu hổ mãi, rồi trơ ra, tầm thường hoá mọi việc. Ngày nay ở thời hội nhập, người ta lại dùng tiếng Anh, tiếng Mỹ như Bốp, Giên, Bi, Ti, Dôn, Míc... để gọi tên con, thiết tưởng cách gọi ấy mang giọng điệu khôi hài, làm đứa trẻ bị yểm nhiễm tính lai căng, nhốn nháo, sùng ngoại. Mặt khác, bây giờ mỗi em bé ra đời đều có giấy chứng sinh, tiếp đó là giấy khai sinh, đặt tên tạm có thể gây khó khăn, phiền toái trong đăng ký hộ khẩu, trong tự thuật lý lịch. Mỗi con người đều có quyền khẳng định mình, chọn chữ ký cho riêng mình. Cho nên, bậc cha mẹ, ông bà, cần lựa chọn những cái tên thích hợp, có ý nghĩa để đặt cho con, cháu mình. Trong cái tên của mỗi đứa trẻ đều bao hàm tính truyền thống, dòng tộc, tính kế thừa, tình thương yêu và hy vọng. Cái tên đẹp làm các cháu tự hào. Khi lớn lên, các cháu mang trong mình những hàm ơn đối với bậc sinh thành và tổ phụ. Cái tên hay, có ý nghĩa tốt, làm các cháu tự tin, phấn đấu để thực hiện nội dung tiềm ẩn của cái tên ấy.
Danh xưng của mỗi người thời nay thường mang họ kép và tên kép, gồm 4 chữ. Họ kép thì họ cha đứng trước, họ mẹ đứng sau, như Nguyễn Lê, Trần Vũ, Hoàng Phạm. Nếu trùng họ nhau thì chuyển âm: Nguyễn Nguyễn thành Nguyễn Nguyên; Lê Lê thành Lê Lệ, Trần Trần thành Trần Trấn, hoặc Trần Trân. Còn tên kép, nên căn cứ vào bộ chữ Hán, Can Chi, Ngũ Hành... anh chị em ruột thịt họ và tên nên cùng khuôn chữ, để sau này có ly tán vẫn nhận ra nhau.
Dựa vào tinh con giáp, năm Tân Mão là năm hoà bình, hữu nghị, mọi sự êm thuận, nhưng tốc độ không đồng đều, khi quá nhanh, khi quá chậm, có lúc ì ra. Mặt hàng xuất khẩu tốt nhất là tôm cá. Môi trường sinh thái sạch sẽ, cảnh trí cao sang, lịch sự. Cuộc sống yên bình, ít xáo trộn.

Ngọc Giang Nam

 

Các tin đã đưa ngày: