Tết năm mới và phong tục đón Tết năm mới của người Việt

01/08/2013

Người Việt ta từ xưa đến nay vốn có rất nhiều Tết như: Tết mồng ba tháng ba (Tết Hàn thực hay tiệc bánh trôi), Tết Đoan ngọ (mồng 5 tháng 5), Tết Trung thu (Rằm tháng 8), Tết cơm mới (Thường tân, mồng 10 tháng 10 hay mồng 1 tháng 10 tuỳ nơi). Tết vẫn nương theo thời tiết tự nhiên chuyển vần theo mùa vụ một năm, chẳng hạn Tết Đoan ngọ là khoảng trước hoặc sau ngày Hạ chí; Tết cơm mới ở khoảng tiết Đông chí; Tết Trung thu ở khoảng tiết Thu phân, còn Tết Nguyên đán là nương theo tiết Lập xuân... Người xưa nói Xuân sinh - Hạ trưởng - Thu thu - Đông tàng là ý muốn nói vạn vật đều nương theo thời tiết của đất trời mà phát triển: Mùa xuân vạn vật sinh sôi; Mùa hạ vạn vật tăng trưởng, phát triển; Mùa thu gặt hái và mùa Đông héo tàn.
Thực ra mọi lễ lạt đầu năm mới được gọi thu gọn lại là Tết chứ nếu gọi một cách đầy đủ thì dân gian nói là Tết Cả, hay gọi theo tên chữ (Hán Việt) vốn đã từ lâu quen thuộc với ngôn ngữ dân gian là Tết Nguyên Đán.Nguyên là đầu tiên, “Đán là buổi sớm. Theo nguyên nghĩa thì Nguyên Đán là buổi sớm đầu tiên của tháng đầu tiên (tháng Giêng) của năm mới. Vậy Tết Nguyên đán là Tết đầu năm mới.

Tết là sự đón mừng năm mới, mừng cái mới và hy vọng vào sự đổi mới Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân, có nghĩa là: Mỗi ngày một mới, mỗi ngày một mới lại mỗi ngày một mới.
Mâm cỗ cúng gia tiên chiều 30 được đặt trên bàn thờ, trước mâm ngũ quả, hai bên bày 2 cặp bánh chưng vuông buộc cặp đôi, bên cạnh bày bánh mứt kẹo, một chai rượu trắng mở nút, 4 chén rượu... Một số nhà còn cúng một ly nước mưa, biểu hiện cho sự trong sạch tâm linh trước tổ tiên, thần thánh.
Mâm cỗ thắp hương lúc Giao thừa được bày ngoài sân, cúng Thổ công và các quan Hành khiển. Theo quan niệm dân gian, mỗi năm có một ông Hành khiển từ Trời xuống coi việc dân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao cho thần kia, nên gia đình phải làm lễ tiễn ông cũ, đón ông mới về điều khiển công việc của năm mới. Mâm cỗ này khá đơn giản, theo thông lệ là gà cả con, xôi cả chõ. Gà sống chưa cứng cựa, chừng 1,3 đến 1,5kg làm sạch, đem luộc, nước vừa sôi thì tắt lửa, để gà trong nồi om chừng mươi phút, sau vớt ra đĩa. Bộ lòng làm sạch sẽ, cuộn thành chiếc nem, đun sôi cùng tiết. Đôi chân giò buộc sợi rơm nếp, cho vào nước vừa lăn tăn sôi, vớt ra ngâm vào bát nước nguội một lát. Tất cả con gà, lòng, tiết và chân giò xếp gọn vào chiếc đĩa to, đặt lên bàn thờ. Phải để đầu con gà quay vào phía bát hương vì con gà là tượng trưng cho cuộc sống sung túc trong một gia đình, gà trống giữ chuồng, có tiếng gáy các lúc giữa khuya, nửa đêm hay lúc tan canh làm cho không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ. Gà quay đầu vào là gà thờ chủ, gia chủ sẽ phát đạt, thịnh vượng.... Ngoài ra lễ vật còn có một đĩa xôi, một bát nước mưa, 4 chén rượu, 1 đĩa muối trắng, 1 đĩa đựng con dao nhỏ, lá trầu, quả cau...
Bảy ngày trước ngày đầu năm mới, tức ngày 23 tháng Chạp là ngày chết tạm thời của vũ trụ (theo ước lệ). 7 là con số thiêng và là biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái toàn thể, như: 3 hồn ở tim, 7 vía ở rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông; Đức Phật sơ sinh bước đi 7 bước tức khắp vùng thế giới. Hay giải thích theo một ước lệ khác: Ngày 23 tháng Chạp là ngày ông Công, ông Táo, vị thần tuy 3 mà 1 trong Tam vị nhất thể: Thổ Công- Thổ Địa- Thổ Kỳ, cưỡi cá chép bay lên Trời để lại dưới hạ giới một cảnh tượng vô chủ- tâm linh. Ngày 23 tháng Chạp được gọi là Tết ông Công, ông Táo. Người ta làm cỗ cúng tiễn ông Táo chầu Trời, người ta mua cá chép sống rồi thả phóng sinh xuống ao hồ, đầm rạch... điều đó có ý nghĩa thiêng là; ngay trong ngày chết tạm thời của vũ trụ đã gieo mầm cho sự sống.
Dân gian ta còn có phong tục dựng cây Nêu ngày Tết. Cây Nêu của người Việt cổ có tiền thân và tên gọi từ cây tà-leo của các tộc bản nguyên ở Đông Nam á (Môn- Khơ me, Tài- Thái cổ). Cây Nêu mang ý nghĩa phổ quát của cây vũ trụ, còn gọi là Cây Mặt trời. Mặt trời được huyền thoại hoá như cánh chim đỏ thắm trên cây vũ trụ mà tượng hình trên cây Nêu là túm lông gà trống thiến, miếng vải đỏ hay vật đan hình tròn mắt lưới.
Sự tích cây Nêu là một huyền thoại cổ đã được Phật hoá về cành treo, treo áo cà sa Đức Phật xua đuổi bầy quỷ dữ từ biển Đông (tượng trưng bóng tối, các thế lực hắc ám...) lợi dụng lúc cuối năm vô chủ - thần linh, ào vào đất liền, tranh giành lãnh thổ của con người. Việc dùng vôi trắng (tượng trưng cho ánh sáng) vẽ cung tên trên sân nhà hướng về phía Đông cũng xuất phát từ ý nghĩa đó: ánh sáng xua tan đêm tối, mặt trời đi ngủ đông, phải dựng Nêu Tà-leo để đón ánh mặt trời, để mặt trời có chỗ đậu ngay khi vừa tỉnh giấc xuân.
Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn, đồng áng, buôn bán... cũng tạm dừng. Từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm gì nữa. Ngày xưa ở các công thư huyện, tỉnh, châu xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ hạp ấn (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...). đến nhà tù cũng không tiếp nhận tù nhân mới. Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với cái chết tạm thời của vũ trụ.
Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng hoá vàng, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần. Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày mùng 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.
Mùng 7 Tết là ngày Khai hạ, hạ cây Nêu coi như mừng kết thúc Tết, người ta lại làm lễ mở cửa rừng nơi rừng núi để người dân đi lại vào rừng tự do, người ta lại làm lễ khai ấn ở các công thự quan lại và triều đình, mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục...

Nvvh

 

Các tin đã đưa ngày: