Lễ rước

30/07/2013

Rước (hay rước kiệu) là một nghi lễ khi làng tổ chức vào đám mở hội làng.
Lễ rước được thực hiện do nhu cầu di chuyển tượng thần hoặc thần vị từ nơi thờ tự về nơi mở hội, thường là từ miếu về đình.
Tuy nhiên, cũng có làng không lập miếu thờ riêng mà có mở hội (thường là hội đền) thì lễ rước thường chỉ rước bát nhang, sắc phong, mâm ngũ quả từ thần điện ra ngoài quanh một vòng trong nội hạt với ý nghĩa “thánh đi thăm thú làng quê” (nơi bảo hộ) hoặc “du xuân” rồi lại trở về. Do vậy, tuỳ theo nhu cầu lễ rước mà làng mua sắm một hay vài cỗ kiệu tương ứng với số các vị thần tôn thờ.
Đền Hạ làng Hạ Lôi xã Mê Linh huyện Mê Linh thờ bà Trưng Trắc, ông Thi Sách và bà Trưng Nhị là 3 vị thần nên có 3 cỗ kiệu có quy cách giống nhau, cùng mầu sơn và cùng chế tạo một thời điểm để mở lễ rước ngày mùng 6 tháng Giêng kỷ niệm ngày khao quân. Mỗi vị thần đi một kiệu.
Đình làng Bạch Trữ xã Tiến Thắng huyện Mê Linh thờ 2 vị thần là công chúa Ngọc Hoa đời Hùng Vương và mưu sĩ Cống Sơn thời Hai Bà Trưng, nên cũng có 2 cỗ kiệu để nghinh rước trong ngày tiệc làng…
Công cụ thực hành lễ rước: Cỗ kiệu

Rước kiệu tại Lễ Hội Tây Thiên

 

Các loại cỗ kiệu
Các di tích tỉnh Vĩnh Phúc có 3 loại cỗ kiệu.
Kiệu 4 người khiêng
Kiệu chỉ gồm 2 thanh đòn dọc cấu trúc hình con rồng, một chiếc ghế có tay và lưng tựa gọi là bành kiệu đặt trên 2 thanh đòn dọc.
Thường loại kiệu này có cấu trúc đơn giản nhất trong các cỗ kiệu còn ở một số làng trong tỉnh.
Cộng dụng là để rước cỗ từ nơi sửa lễ ra nơi tế lễ, thờ tự và rước bài văn tế thần từ nơi soạn thảo (nhà người thảo văn hay từ văn chỉ) ra nơi tế lễ nên còn gọi là “kiệu văn”
Kiệu 8 người khiêng:
Còn gọi là “bát cống”, nguyên là một từ Hán Việt
Loại kiệu này dùng để rước tượng thánh hoặc thần vị nên được gọi chung là kiệu thần. Một loại cỗ kiệu có phổ biến ở hầu hết các làng của tỉnh Vĩnh Phúc. Bởi vậy ở làng nào có cỗ kiệu thần, là làng đó có nhu cầu tổ chức lễ rước trong dịp mở lễ hội làng. Làng nào không có nhu cầu mở hội, không có lễ rước thì không mua sắm kiệu thần.
Về cấu trúc, kiệu “bát cống” có các thành phần cấu kiện như sau:
Bành kiệu:
Là chiếc ghế đặc biệt đặt trên cùng các đòn kiệu, có lưng tựa và tay vịn, được trang trí hình đầu rồng giống như chiếc long ỷ (ghế rồng) nhưng thấp. Phần hậu bành (bành sau) cao hơn thân bành, được chạm nổi hình “lưỡng long triều nguyệt” (hai con rồng chầu mặt trăng) hoặc hình “lý ngư hoá long” (cá chép hoá rồng) cùng các cành lá rong rêu thuỷ sinh.
Bành kiệu là nơi đặt bài vị thần khi tiến hành nghi thức rước. Trước bài vị thần đặt bát hương, cây sáp, hoa quả là các vật lễ.
ở Vĩnh Phúc hiện có 2 kiểu bành kiệu.
Một là: Loại bành kiệu như mô tả ở trên là để lộ thiên
Hai là: Loại bành kiệu có mái che, gọi là kiệu long đình. Loại kiệu này thường là “âm bản” của bài vị thánh trong lễ rước.
Hai làng Tây Thượng - Tây Hạ huyện Lập Thạch cùng thờ chung một vị thần. Làng Thượng là làng anh nên rước kiệu thánh có bành lộ thiên (dương bản). Làng Hạ là dân em, nên có kiệu “long đình” (âm bản).
Đình làng Bạch Trữ có 2 cỗ kiệu. Kiệu của đại vương Cống Sơn - một vị tướng của bà Trưng Trắc đi kiệu bành lộ thiên (kiệu nam - dương bản). Kiệu của công chúa Ngọc Hoa, vợ của Tản Viên Sơn Thánh, người lập ra làng Bạch Trữ đi kiệu nữ - long đình - (âm bản).
Đền Hai Bà Trưng làng Hạ Lôi có 3 cỗ kiệu, hồi cố về gia đình Bà Trưng Trắc nên đều là kiệu long đình (hồi có: âm bản).
Đòn kiệu:
Kiệu bát cống có 3 loại đòn: Đòn dọc, đòn ngang và đòn khiêng.
Đòn dọc: Gồm 2 thanh, phần đầu tạo hình đầu rồng phần cuối tạo hình đuôi rồng. Khi chồng kiệu, đặt song song làm tầng đòn trên cùng, tạo thành mặt phẳng thứ nhất đội bành kiệu.
Đòn ngang: Gồm 2 thanh, mỗi thanh tạo 2 đầu rồng đặt vuông góc ở phần đầu và phần cuối của 2 thanh đòn dọc, tạo thành mặt phẳng thứ 2 đội 2 thanh đòn dọc.
Đòn khiêng: Gồm 4 thanh đặt dưới đầu của 2 thanh đòn ngang tạo thành mặt phẳng thứ 3 với 8 hình đầu rồng. Mỗi đầu đặt lên vai của người khiêng kiệu tuỳ theo từng làng gọi là “chân kiệu” hoặc là “hàng hoá”. 4 thanh đòn khiêng này đặt cùng chiều với 2 thanh đòn dọc.
Về loại kiệu bát cống này, làng Bến xã Liên Hoà huyện Lập Thạch có 2 cỗ kiệu có dáng đặc biệt và đều là cổ vật rất hiếm về cấu trúc. ở mặt phẳng thứ nhất đội bành kiệu chỉ có một thanh đòn dọc, dân làng gọi là kiệu “cửu long” thiếu một đầu rồng so với kiệu có 2 thanh đòn dọc.
Hai cỗ kiệu này là để nghinh rước 2 vị thần có danh tính là Trần Minh Tự và Hoàng Ngự Chiếu đều là các Lạc tướng giúp việc cho vị Ngật Tuấn Cao Sơn - con trưởng của Hùng Vũ Vương đời thứ XII triều Hùng, nên bớt đi một đầu rồng (kém một bậc).
Khi nghinh rước, bài vị của 2 vị đều mặc áo xanh lá mạ và xanh thậm, hành ở đầu và cuối. Bài vị của Ngật Tuấn Cao Sơn mặc áo vàng hành ở giữa. Đều thể hiện rõ thứ bậc, cương vị xã hội trong thế giới các thần linh.
Đình thôn Khang Điền (làng Chanh) xã Tam Quan huyện Tam Đảo “trung cung” thờ Tây Thiên Quốc Mẫu, cũng có 1 cỗ kiệu loại hình như trên. Được mô tả: “cỗ kiệu này 3 ròng rọc, một giữa dài, 2 bên ngắn, 2 đòn ngang, 4 đòn con, lúc rước đi trông rất đẹp”. Đình làng Lưỡng Quán thuộc xã Trung Kiên huyện Yên Lạc nay còn một cỗ kiệu bát cống có cấu trúc như của 2 làng trên.
Kiệu 16 người khiêng:
Còn gọi là kiệu “thập lục cống”, cũng là một từ Hán Việt. Chữ “cống” nghĩa là tiến cử lên, ở đây chỉ người khiêng kiệu.
Về cấu trúc, kiệu có 8 thanh đòn khiêng, đặt vuông góc với 4 thanh đòn khiêng của kiệu bát cống tạo thành mặt phẳng thứ 4 có thiết diện chân đế rộng hơn, những người khiêng kiệu đi ngang, tạo nên thế cân bằng, vững chãi hơn kiệu bát cống.
Hiện chỉ có xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường còn một cỗ kiệu cổ loại này và mới sắm thêm một bộ mới là hai.
Các làng Quan Tử xã Sơn Đông có một bộ để ở đình, làng Hoàng Xá xã Vĩnh Thịnh có một bộ còn để mộc chưa sơn, nhưng đều bị tiêu huỷ trong cuộc kháng chiến 9 năm (1946 - 1954), làng Lũng Ngoại xã Lũng Hoà có một cỗ kiệu 16 người khiêng là thượng cổ, nay cũng không còn.
Nghi trượng dùng trong đám rước.
Rước nghĩa là mở đầu của lễ hội làng, hay còn gọi là “làng vào đám”, Lễ hội cổ truyền ở tỉnh Vĩnh Phúc không chỉ diễn ra ở đình làng, mà còn diễn ra ở đền và ở chùa, như lễ rước kiệu ở đền Hạ Lôi, đền Bắc Cung, đền Đuông…, ở chùa như chùa Linh Bảo làng Can Bi, huyện Bình Xuyên, làng Thượng Yên huyện Lập Thạch… những nơi này đều có lễ rước.
Trong mỗi lễ rước, quan trọng nhất là nghi trượng của đoàn rước, thể hiện rõ trình độ tri thức và phong cách ứng xử văn hoá, giữ mối cân bằng trong tâm thức giữa thần và người trong mối quan hệ cộng đồng làng.
Các đồ nghi trượng dùng trong đám rước gồm:
Các loại nghi trượng bằng vải, lụa:
Cờ tiết, cờ mao:
Cờ của các vị tướng quân, tượng trưng cho sự quyền uy đi đầu đoàn rước.
Cờ ngũ hành: Thường được may bằng vóc, hình đuôi nheo (cờ chéo) có 5 màu khác nhau, biểu thị phương hướng màu sắc, chỉ sự thống nhất vẹn toàn, gồm:
+ Màu xanh: thuộc hành mộc, phương đông.
+ Màu đỏ: thuộc hành hoả, phương nam.
+ Màu vàng: thuộc hành thổ, ở giữa, trung ương.
+ Màu trắng: thuộc hành kim, phương tây.
+ Màu đen: thuộc hành thuỷ, phương bắc.
Cờ tứ linh: Cờ vuông, mỗi lá thêu một con vật thiêng là long (rồng), li (con vật hình tượng đầu lân mình ngựa, móng guốc), quy (rùa), phượng (chim phượng) biểu thị âm dương giao hoà, mầm mống của sự sinh sôi phát triển gồm:
Rồng, phượng thuộc dương (thượng cầm, loài bay ở trên).
Li, quy thuộc âm (hạ thú, loài đi dưới đất).
Hai đoàn cờ “ngũ hành” và “tứ linh” gồm có 9 lá. Số 9 là số cực dương, con số của hoàng đế biểu thị sự thống nhất non sông.
Cũng có làng khi rước chỉ dùng 4 lá cờ, gọi là cờ Tứ phương cũng với 4 màu: xanh, đỏ, trắng, đen. Hoặc thay cờ tứ linh bằng 8 lá cờ gọi là cờ bát quái. Loại cờ này có thêu 4 chữ trong tám lá cờ thuộc kinh dịch là Càn, khâm, cấn, chấn, tốn, li, khôn, đoái. (Có làng không thêu chữ mà chỉ thêu kí tự 8 quẻ).
Cờ vía:
Thường được may bằng loại vải quý, mặt tơ bóng mịn, có hoa, thêu chữ “lệnh”. Loại cờ này chỉ có 1 chiếc đi có lọng che. Đây là cờ tướng lệnh của thần linh rất tôn quý. Trong đoàn rước cờ vía, thường đi cùng với kiếm lệnh.
Các loại cờ này hiện không xuất hiện trong các đám rước đang còn thực hiện ở một số làng xã tỉnh Vĩnh Phúc, vì các lá cờ do bằng chất liệu vải cũ, đã hư hỏng trong nhiều năm qua.
Ngày nay trong các đám rước, người ta thường chỉ dùng hai loại cờ vuông và cờ đuôi nheo, có màu xanh, đỏ đan xen nhau mà không đủ năm màu gọi chung một thuật ngữ là “cờ hội”, cũng có khi thêu chữ “hội” hoặc chữ “thần” bằng chữ Hán. Các loại cờ này giờ đây trở thành hàng hoá bán tự do trong cơ chế thị trường. Mỗi làng tự mua sắm để hành lễ, mà ít biết về giá trị văn hoá - nhân văn của nó. Hiện nay cũng chưa tìm được lá cờ nào của năm 1945 về trước làm chuẩn mực.
Cái tàn:
Còn gọi là cái quạt vả che 2 bên bài vị thần đặt trên bành kiệu.
Cái tán:
Là cái tàn lớn che phía sau kiệu hoặc cả trước kiệu thêu ngũ sắc (5 màu) rồng, phượng và có thành rủ xuống dài hơn cái tán.(1)
Cái lọng:
Vật dụng thường dùng để che như cái dù nhưng lớn hơn, có vành ngoài rủ xuống nhưng ngắn và có tua. Khác tàn và tán lọng có thể xoè, cụp lên xuống. Làm bằng vải sơn hoặc giấy sơn.
Các loại nhạc cụ dùng trong đám rước:
Có các loại nhạc cụ dùng để điều hành cuộc rước và tấu bài nhạc “lưu thuỷ” (1) hoặc “ngũ đối” (2)
Có các loại chính sau:
Trống da:
Gồm trống các loại trong đó có một chiếc trống cái (trống lớn) cầm nhịp cho đoàn rước, kích thước to nhỏ tuỳ theo của mỗi làng. Có làng thửa loại trống có đường kính mặt tới 80cm đến 100cm trở lên.
Ngoài ra còn có các loại trống như trống khẩu, là loại trống nhỏ có chuôi cầm tay điều hành nhịp đi của kiệu thần.
Trống bản là một loại trống có mặt rộng, thân ngắn, đeo trống ngang thắt lưng, đánh bằng 2 dùi trống nhỏ, có trong thành phần đoàn nhạc “đồng văn” của lễ rước. Dùng để hoạ lại khi các nhạc cụ như trống khẩu, thanh la sinh tiền khởi lên.
Các loại trống này đều làm mặt bằng da thuộc (chính là da trâu) căng thẳng, trong đoàn nhạc bát âm, thuộc bộ gõ gọi là loại “tự thân vang”.
Chiêng đồng:
Điểm nhịp theo sau tiếng trống thành tiết tấu tiếng trầm (tùng, bi, li…) trong hành rước và chỉ có một chiếc tương xứng về kích cỡ với trống cái. Các âm thanh này tạo thành tiếng bổng “cương” của trống - tiếng trầm “nhu” của chiêng - tức là tiếng hoà âm dương trong nhạc rước.
Về loại nhạc cụ kim khí này, còn có thanh la của đoàn đồng văn.
Ngoài ra còn có các loại nhạc cụ khác dùng trong dàn “bát âm”, gồm các loại nhạc cụ dùng trong đoàn tế.
Các loại tự khí bằng gỗ gồm:
- Voi - ngựa đứng trên bánh xe đẩy
- Mộc bản: Biển gỗ, thường làm theo hình bầu dục, trong biển đề những chữ Hán như “Thượng đẳng tối linh” nghĩa là thiêng liêng bậc nhất, hoặc “Lịch triều phong tặng” nghĩa là các triều đại tặng sắc phong, để chỉ rõ vị thế của vị thần.
Lỗ bộ: Xem ở mục lễ, tế - khi rước đi trước kiệu thần.
Các loại hình nghi lễ rước hiện còn ở một số làng xã Vĩnh Phúc.
Các nghi thức rước cỗ
Tế thần là nghi lễ long trọng. Trong tế thần nhất thiết phải có lễ vật, dân gian gọi là cỗ. Có nhiều loại cỗ để làm lễ tế thần. Nhưng cỗ của làng thường được phân cho các nhà chứa tu sửa. Việc di chuyển cỗ từ nhà chứa tới nơi tế thần gọi là rước cỗ.
ở Vĩnh Phúc, mỗi làng thường có cách nghinh rước khác nhau và đều theo thể thức nhất định trở thành “lệ làng”.
Hai làng Tây Thượng - Tây Hạ cùng có lệ rước cỗ lên miếu nơi thờ cúng chung để tế vào sáng mùng 3 tháng Giêng. Cỗ đặt trong “cái không”, rồi lại đặt lên kiệu 4 người khiêng rước đi, có cờ lọng và trống chiêng.
Làng Bàn Giản rước cỗ trong ngày rước thần vị hội làng trưa mùng 6 tháng Giêng.
Xã Bàn Giản xưa có 4 làng là Đông Lai, Trụ Thạch, Ngọc Xuân, Hoa Giang thờ 4 vị thần là 4 anh em trong số 50 con trai theo mẹ lên non được trấn trị ở vùng này thuộc thời Lạc Long Quân - âu Cơ. Ngày nay có lệ rước 4 thánh về đình công đồng thờ phụng một đêm mùng 6 tháng Giêng. Cỗ thờ được rước trước kiệu các thánh.
Đền Đuông xã Bồ Sao có lệ rước cỗ vào sáng ngày 14 tháng 5.
Tuy nhiên, không phải làng nào cũng có lễ rước cỗ như thế này. Hiện rất hiếm các nghi thức rước cỗ bằng kiệu như 3 làng kể trên. Việc dâng cỗ hiện nay đơn giản bằng đội cỗ, bằng gánh là phần nhiều. Trừ các làng có lệ sát sinh chạy cỗ.
Nghi thức rước nước
Nghi thức rước nước thịnh hành ở một số làng có lệ “mộc dục” tượng phật hoặc bài vị thần chuẩn bị cho ngày làng vào đám. (Chữ “mộc dục” nghĩa là tắm gội).
Các làng ở ven sông thì có lệ lấy nước ở sông. Một số làng kén chọn lấy nước ở một cái giếng cố định. Giếng nước ấy chỉ chuyên để lấy nước cúng tế trong năm.
Nước được đựng trong một cái choé có nắp đậy, đặt lên kiệu nghinh rước về nơi thờ cúng.
Với các làng lấy nước ở sông, người ta dùng một cái thuyền, trên thuyền trang trí cờ hội, những người dự vào cuộc đặt lên giữa mui thuyền một cái choé đựng nước. Thuyền bơi ra giữa sông, làm lễ rồi neo lại. Người ta dùng một cái vòng phao, có dán các giấy màu ngũ sắc, rồi thả xuống mặt sông. Vị chủ lễ cầm cái gáo có chuôi dài cúi xuống múc nước trong cái vòng này đổ vào choé. Đầy choé thì bơi vào bờ. Choé nước có buộc một dải khăn điều vào cổ, đặt lên kiệu rước về nơi thờ cúng hoặc nơi làm “mộc dục”.
Làng Cẩm Chiền xã Kim Xá huyện Vĩnh Tường, làng Lũng Hạ xã Yên Phương huyện Yên Lạc đều thờ 3 vị thần là Tản Viên (Nguyễn Tùng), Cao Sơn (Nguyễn Sùng) và Quý Minh (Nguyễn Hiển), tướng của vua Hùng Duệ, có lễ tiệc vào ngày mùng 10 tháng 5. Trước ngày tiệc chính, có lễ rước thần từ trong thần điện ra cửa đền làm lễ “mộc dục”.
Làng Trung Hà huyện Mê Linh có lệ rước nước ở sông Hồng vào ngày mùng 1 tháng 4. Tối mùng 4 tháng 4 làm lễ “tắm vua”, (mộc dục) ở đình. Nơi đây thờ tới 5 vị đại vương thần trong đó có vị công chúa Vĩnh Hoa Phương Dung là tướng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trước khi vào “mộc dục”, nước lấy giữa dòng sông Hồng để lắng trong, còn được đánh phèn lần nữa.
Làng Thạch Đà huyện Mê Linh có lệ rước nước về đình, vào tối ngày mùng 8 hoặc mùng 9 tháng 8, trước ngày tiệc làng. Nước lấy ở giếng Đông của “tích” (xóm) Đông. Mỗi năm chỉ tổ chức một lần. Nước múc ở giếng lên rồi tế lễ tại giếng. Choé nước đặt lên kiệu rước về đình long trọng như rước thần. Nước ấy đặt trên thượng điện, dùng làm nước cúng cả năm.
Làng Thủ Độ xã An Tường cũng có lệ rước nước ở sông Hồng về đình làm lễ mộc dục.
Về lễ rước nước, đặc biệt nhất là làng Duy Bình xã Vĩnh Ninh huyện Vĩnh Tường ở đền Ngự Dội, tên chữ là “mộc dục điện” (đền tắm gội).
Sự tích như sau:
Tản Viên Sơn Thánh cùng 2 vị bộ tướng là Cao Sơn - Quý Minh đi đánh quân Thục trở về nghỉ chân ở cánh bãi La Phiên bên bờ tả sông Hồng. Gặp hai cô gái trong làng gánh hai đôi quang sọt đi cắt cỏ. Tản Viên liền bảo hai cô gái xuống sông gánh nước lên để tắm. Hai cô gái từ chối vì ở đây không có thùng đựng nước. Nhưng Tản Viên bảo hai cô gái cứ xuống múc nước. Nước được gánh vào sọt lên bờ mà không chảy mất một giọt nào. Biết là có thần nhân, hai cô gái liền chạy về làng loan báo các bô lão và dân làng.
Bởi thế về sau lễ “mộc dục” tiến hành tại nơi các vị tắm gội, tức đền Ngự Dội hay là “Mộc dục điện”. Lễ tế được tiến hành cứ 3 năm một lần vào các năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu theo thập nhị chi.
Trong 8 năm còn lại (Sửu - Dần - Thìn - Tị - Mùi - Thân - Tuất - Hợi) cứ vào giờ Mùi (từ 13 giờ đến 15 giờ) ngày 14 tháng Giêng, xuất phát từ Ngự Dội, nhân dân làng Duy Bình rước kiệu ra bờ sông lấy nước.
Tài liệu địa phương ghi nhận: Thật lạ kỳ trong chiều mùa xuân lộng gió, chiếc thuyền rước choé và cờ lệnh vượt ra dòng nước đôi sông Hồng phải theo hiệu cờ lệnh. Lá cờ đang rũ xuống bất thần phần phật tung bay. Khi ấy thuyền sẽ đảo 3 vòng, rồi thu nước rước về.
Bất luận thời tiết như thế nào, giờ Mão (từ 5h - 7h) ngày 15 tháng Giêng của các năm Tí - Ngọ - Mão - Dậu bao giờ cũng có một đợt gió mạnh thổi từ non Tản thẳng sang cửa đền. Nhân dân thập phương nô nức về đền để cử hành buổi lễ.
Ngày lễ rước nước này được mô tả:
…Hàng trăm chiếc thuyền nhỏ cùng một chiếc thuyền lớn được trang trí lộng lẫy chờ sẵn ở bến sông Hồng trước cửa đền.
Khi đoàn rước kiệu từ đền Ngự Dội đến bờ sông thì hàng nghìn con người đứng ở trên bờ sông reo hò vang dội, hoà cùng tiếng trống, tiếng mõ từ các thuyền nhỏ dưới sông vang lên. Đó chính là lúc chiếc kiệu rước choé đựng nước từ từ tiến xuống chiếc thuyền rồng lớn có 19 đinh tráng mặc áo nẹp nỉ quần hồng, đội khăn đầu rìu đứng 2 bên mạn thuyền chờ đón.
Sau một phút yên lặng, 99 chiếc thuyền nhỏ (biểu trưng 99 người con của Lạc Long Quân - âu Cơ) đậu quanh bờ chờ đợi, trên mỗi chiếc có 9 tráng đinh tay cầm dầm, da bánh mật, cơ bắp nổi lên cuồn cuộn đã sẵn sàng.
Một hồi 3 tiếng trống dõng dạc vang lên. Khi tiếng cuối dứt điểm cả 100 chiếc lao nhanh ra dòng nước hai (chỗ giữa sông) - 99 chiếc thuyền nhỏ bơi quanh chiếc thuyền lớn có choé nước ở trên, lượn tròn như một bông hoa hướng dương in trên mặt nước.
Trên bờ, tiếng tù và, thanh la, tiếng trống ngũ liên nổi lên dồn dập tăng thêm nhịp điệu nô nức không khí ngày lễ hội. Các già làng, các bà vãi áo dài, khăn lượt, lễ phục trang nghiêm, chắp tay vái trời, vái đất, mắt đăm đăm nhìn vào những con thuyền, cầu tài, cầu lộc mong cho mùa màng tươi tốt bội thu.
Chiếc thuyền lớn đã ra đến giữa dòng sông. Viên chủ tế thận trọng múc từng gáo nước đổ vào choé cho đến khi đầy, rồi lấy nắp choé đậy lại. 4 người khiêng choé nước đặt lên kiệu. Chiếc thuyền lớn từ từ quay mũi vào bờ hướng về đền Dội.
99 chiếc thuyền nhỏ tíu tít bơi quanh thuyền lớn như để hộ giá và báo tin cuộc lấy nước đã hoàn thành.
Trên bờ, 2 hàng các chân khiêng kiệu chờ sẵn. Khi thuyền rước nước tới cách bờ khoảng 100m, tiếng reo hò trên sông lại vang dậy, nhiều người nhảy lên biểu thị sự hân hoan đến tuyệt đỉnh.
Thuyền cập bến, 4 người trên thuyền khiêng choé nước thiêng lên bờ, đặt vào kiệu lớn, rước về đền tế lễ, rồi làm lễ “mộc dục” bài vị thánh.
Vậy là từ một huyền thoại về Thánh Tản Viên, một lễ rước nước được hình thành với sức mạnh văn hoá.
Các làng khác của huyện Vĩnh Tường như Bình Trù, Cao Xá xã Cao Đại rước nước vào mùng 1 tháng 3, làng Thượng Trưng rước nước vào ngày mùng 1 tháng 2, làng Tây Xá xã Hoàng Kim huyện Mê Linh rước nước vào các ngày 13 đến 17 tháng Giêng, đều là rước nước ở sông Hồng, lấy nước bằng thuyền như ở làng Cam Giá, vì đều là các làng tụ cư ở bờ tả của sông.
Làng Nghinh Tiên, thờ vị tướng quân Đoàn Thượng, đời nhà Trần vào ngày 11 tháng 4 có lễ rước thánh giá ra bến sông làm lễ tắm gội (mộc dục).
Đền Hạ Lôi xã Mê Linh có lệ 150 nam, 150 nữ rước kiệu thần ra sông Hồng lấy nước về đền “mộc dục” thánh tượng.
Tục rước nước cũng là một tục hội về nông nghiệp.
Nghi lễ rước kiệu thần
Mỗi năm làng mở hội, thường gọi là “làng vào đám”, thì nhất thiết có đủ 3 nghi thức thứ tự cùng tiến hành:
- Lễ đại tế
- Lễ rước
- Mở hội với các trò diễn dân gian
Lễ rước bao giờ cũng là lễ được tổ chức công phu, tốn kém nhưng lại hoành tráng nhất trong dịp làng vào đám, và mang ý nghĩa thiêng liêng nhất vì khi rước, là khi thần thánh “xuất cung” đi duyệt thị và thằm thú làng quê nơi khu vực vị thần bảo hộ, dân làng được “chiêm ngưỡng tôn nhan” mà không mấy ai trong làng lại có dịp được vào trong thần điện nhìn thấy.
Tuỳ theo nội dung của kỳ làng vào đám, mà lễ đại tế được tiến hành trước hoặc sau khi rước về.
* Những công việc chuẩn bị cho một kỳ lễ rước
Chọn người rước kiệu:
Việc làm đòi hỏi nhiều thời gian và công sức tập luyện. Những người rước kiệu thần (gọi là chân kiệu) đều phải kén chọn kỹ theo tiêu chí và tục lệ làng xã. Hầu hết là thanh thiếu niên nam hoặc nữ (nếu vị thần là nữ giới) chưa có vợ, chưa có chồng và đều là con nhà tử tế ở trong làng, không có khuyết tật thì được tuyển chọn.
Việc kén chọn ấy nhiều làng ghi thành văn bản trong hương ước của làng xã, thành lệ làng. Điều thứ hai trong sổ tục lệ xã Đồng Vệ, tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên soạn vào năm Bảo Đại thứ VII Triều Nguyễn và được Tuần Phủ tỉnh Vĩnh Yên duyệt ngày 13 tháng 12 năm 1932 ghi: “Việc nghinh phụng - (tức rước kiệu): nguyên dân đã chia làm 3: làng Trung Đình, làng Minh Tự, làng Đại Thần, làng Minh Tự 14 giáp, làng Đại Thần 9 giáp, làng Trung Đình 3 giáp, lệ cứ 5 năm một lần đăng hoá (nghĩa là thay đổi danh sách ghi trong sổ)… thời 3 làng phải cắt 3 người “hoá cả” trông nom việc thờ (cúng lễ ở miếu - L.K.T), 8 người hoá xuất để được rước kiệu, còn các hoá con cầm tàn quạt, cờ trống, lệ 5 năm mới được đăng thôn…” (nghĩa là thay đổi sổ sách ở thôn). Như vậy ngoài các quan viên, ở xã Đồng Vệ (nay là thôn thuộc xã Đại Đồng) có 9 người giữ việc cúng lễ ở miếu, 24 người vào chân “hoá xuất” để được rước kiệu (kiệu 16 người khiêng cho lân đổi nhau), các chân “hoá con” thì không có hạn định. Ngày nay, các chân hoá xuất, hoá con, đều gọi chung là “hàng hoá”. (1)
Tại lễ rước kiệu làng Hạ Lôi vào ngày mùng 6 tháng Giêng, việc kén chọn lại càng kỹ lưỡng hơn. Đền Hai Bà có 3 cỗ kiệu, đều là kiệu “bát cống” (8 người khiêng), gồm 2 kiệu nữ thần là bà Trưng Trắc, bà Trưng Nhị và 1 kiệu là nam thần, nên chân kiệu có cả nam và nữ. Mỗi kiệu 16 người thay đổi cho nhau, tổng số chân khiêng kiệu cả thảy là 48 người. Theo kể lại, cách tuyển chọn truyền thống của làng Hạ Lôi như sau:
- Về độ cao là lấy bằng vai: Lấy một cây nứa thẳng đặt ngang ở vị trí cố định đã chọn cao độ, lần lượt các cậu trai, cô gái đi ghé vai vào cây nứa. Cây nứa chạm khít vai là coi bằng nhau, là đạt. Nếu như vai bị hụt hoặc cao vượt lên coi như bị loại. Chọn đủ như thế 16 người biên chế cho một kiệu, để khi rước kiệu không bị nghiêng lệch.
- Về độ dài của các xương tay: Sau khi đạt độ cao vai đồng lứa, đến lượt chọn độ dài của tay. 16 người theo nhịp trống, đều giơ tay lên và hạ tay xuống, nếu tay người nào dài hoặc ngắn cũng bị loại lần thứ 2. Sở dĩ có cách chọn này, vì khi bành kiệu, có động tác nhất loạt nâng kiệu lên khỏi đầu và hạ xuống 3 lần để “reo hoan thanh”.
Vào ngày rước, các chân kiệu phải tập dượt trước một thời gian.
Công việc “bao sái” (vảy nước và lau chùi):
Từ vài ngày trước ngày lễ, kiệu được lấy từ trong hòm ra. Các quan viên tri lễ làm lễ cúng thần, rồi thực hiện vảy nước, lau chùi cho thật sạch bóng. Xem xét các bộ phận, nếu có chỗ nào lệch lạc thì sửa chữa lại cho vững chắc.
Tiến trình vào lễ rước
Chồng kiệu:
Buổi chiều của ngày lễ kính cáo, các quan viên tri lễ tiến hành chồng kiệu, nghĩa là lắp các bộ phận của kiệu theo đúng cấu trúc.
Trên bành kiệu bày đặt các đồ tự khí như bát hương, cây sáp, lọ hoa, đẳng rượu và mâm ngũ quả. Nếu là rước bát hương thì chỉ rước một kiệu. Nếu có nhu cầu rước bài vị các thần thì chồng đủ kiệu.
Lễ tế “Phụng nghinh”
Tế trình để bước vào lễ rước kiệu.
Nói chung ở mỗi kỳ vào đình đám, khi vào lễ rước đều phải có lễ tế “phụng nghinh”. Có làng chỉ tế một tuần rượu sau lễ thượng hương.
Nghi thức là:
- Thượng hương (dâng hương)
- Chước tửu (dâng rượu)
- Đọc chúc
Sau đó là chuyển thần tượng hoặc thần vị xuống kiệu, rồi tiến hành nghinh rước.
Lễ tế yên vị:
Sau khi lễ rước hoàn thành, thần tượng hoặc thần vị hoàn cung, trở về nội điện.
Làng vào làm lễ tế yên vị.
Một số lễ rước đặc biệt ở Vĩnh Phúc
Lễ rước kiệu đền Hai Bà Trưng làng Hạ Lôi.
Một năm ở đền Hai Bà có 4 ngày lễ chính:
- Ngày mùng 6 tháng Giêng: Ngày khao quân
- Ngày mùng 7 tháng Giêng: Ngày yến hạ
- Ngày mùng 1 tháng 8: Kỷ niệm ngày sinh Hai Bà (song sinh)
- Ngày mùng 8 tháng 3: Kỷ niệm ngày mất của Hai Bà (1)
Trong đó, ngày mùng 6 tháng Giêng có nội dung chính là lễ rước 3 kiệu, được truyền tụng trong dân gian thành câu ca:

Có về xem hội Hạ Lôi
Tháng Giêng mồng 6 cho tôi đi cùng
Kiệu Bà đi trước kiệu ông
Nữ binh hộ giá khăn hồng, hài hoa


Lễ rước là nghi thức quan trọng nhất trong năm.
Kiệu bà:
- Kiệu Bà Trưng Trắc có tàn che và rèm cửa màu vàng
- Kiệu Bà Trưng Nhị có tàn che và rèm cửa màu đỏ.
Kiệu Hai Bà đều có các chân kiệu là nữ rước.
Kiệu ông: Kiệu ông Thi Sách, không có tàn che rèm cửa màu đỏ do các chân kiệu là nam rước.
Cả ba kiệu đều cấu trúc theo kiểu “long đình” (kiệu có mái tre).
Nữ binh hộ giá: Đi trước 3 kiệu, đoàn nữ binh biểu tượng quân sĩ của Hai Bà.
Khăn hồng, hài hoa:
Về chiếc khăn hồng, sách “Lĩnh Nam chích quái” của Vũ Quỳnh - Kiều Phú, sưu tập và biên soạn từ thế kỷ XV viết về chân dung Hai Bà trong giấc mộng của Vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) như sau: “Vua mừng ra xem, tự nhiên ngủ thiếp đi, mộng thấy hai người con gái đội mũ phù dung, mặc áo xanh, thắt lưng đỏ, cưỡi ngựa sắt theo gió lướt qua”.(1)
Hài hoa: Đôi hài của Bà Trưng, mũi hài có kết hoa. Những thứ này đi trước kiệu Hai Bà.
Đặc thù của lễ rước kiệu là sự thay đổi thứ tự các kiệu trước cổng đền theo thiết chế:
- Gia đình phụ quyền.
- Thể chế quân vương của tinh thần Nho giáo. Đó là một hiện tượng đặc biệt khi mà sự kiện và nhân vật của lịch sử đã thích nghi cùng tồn tại trong môi trường văn hóa.
Tiến trình lễ hội
Chiều mùng 5 tháng Giêng: Lễ tế cáo yết, mở cửa đền, chồng kiệu.
Sáng mùng 6 tháng Giêng: Đại tế xuất quân.
Lễ rước.
Lễ tế yên vị sau lễ rước hoàn cung.
Lễ rước đêm làng Phù Liễn
Phù Liễn nay là thôn Phù Liễn thuộc xã Đồng Tĩnh huyện Tam Dương. Lễ rước đồng thời ở 3 di tích thờ cúng:
- Miếu thờ bà Ngọc Kinh, gọi là miếu Bà, một vị tướng của Hai Bà Trưng.
- Miếu Đức ông còn gọi là miếu Thính, thờ vị Thông Linh đại vương và người con trai cả là Hách Thanh đại vương.
Mỗi di tích rước một cỗ kiệu bát cống về hội tại đình Cả.
Thời gian từ tối ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng 11 hàng năm.
Tiến trình lễ rước như sau:
1. Tối mùng 9:
- Giờ Dậu (17h - 19h) cả 3 di tích đồng khởi lễ tế phụng nghinh có bài văn tế “phụng nghinh văn”.
Nội dung:
Cung duy đại vương, chí tinh chí tuý, tối tú tối linh, thần công mặc hạp, tương cảnh dĩ ninh.
Công từ, biệt miếu, hợp tế cung đình.
Tương lân chính tịch, cẩn cáo phụng nghinh.
Cẩn cáo. 
 
Sau lễ tế, 3 kiệu của 3 di tích cùng khởi kiệu, tiến về đình công đồng (cũng gọi là đình Cả).
- Biên chế của đoàn rước mỗi kiệu gồm có:
8 chân khiêng kiệu.
1 chiếc tán - một người rước.
2 chiếc tàn - 2 người rước.
1 trống cái - 2 người rước, 1 người kiêm thủ hiệu.
1 chiêng đồng - 2 người rước, một người kiêm thủ hiệu.
4 bó đuốc, 4 người rước.
(Vì lễ rước khởi hành vào buổi tối, nên gọi là lễ rước đêm).
Tổng cộng có 24 người. 3 đoàn rước của 3 kiệu gồm 72 người
Riêng kiệu bà Ngọc Kinh còn có trò “múa Tiên” và “phường chèo đóng đường”.
Múa Tiên là khúc múa có 2 người. Một diễn viên nam ở dưới. Một diễn viên nam khác, đóng giả vai nữ, đứng lên vai diễn viên ở dưới, vừa đi vừa múa trước kiệu bà Ngọc Kinh.
Phường chèo đóng đường là một trò hộ giá trước kiệu bà Ngọc Kinh, có 2 người: 1 vai nam, mặc mũ áo quan văn; 1 vai nam, mặc mũ áo quan võ, cầm đao kiếm đi 2 bên trước kiệu bà Ngọc Kinh.
- Tiến trình kiệu trên đường về đình:
Mỗi kiệu của mỗi di tích hành theo một đường riêng. Kiệu của bà Ngọc Kinh khởi từ miếu Đức Bà xuống đường về đình. Kiệu của ông Thông Linh và Đại Vương Hách Thanh hành theo đường lớn qua làng. Đến cây đa vườn hội nơi ngã ba có 2 đường hành kiệu gặp nhau thì dừng lại chờ kiệu của bà Ngọc Kinh tiến lên trước (vì bà là chủ soái), rồi rước nối theo vào thành một đoàn hai kiệu. Đây là điểm hợp lại của 2 kiệu, lại có cây đa cổ thụ nên thành 1 địa danh “cây đa vườn Hội”.
Kiệu của Đại Vương Trạc Linh (Hắc Công) khởi từ đình Hức theo đường lớn vào làng, qua xứ cầu Chùa tới giếng đình, trước cổng đình thì dừng lại. Chờ kiệu của bà Ngọc Kinh và ông Thông Linh cùng hội ở trước cổng đình.
Cuộc rước đến đây là cao trào, tập hợp đầy đủ 3 kiệu và 3 đoàn rước, đông vui, náo nhiệt và hoành tráng nhất. Rồi từ từ, kiệu bà Ngọc Kinh tiến lên trước, vào đình. Các lễ vật và hòm sắc phong được các quan viên chấp sự chuyển lên thượng cung, toạ giữa ban thờ. Lần lượt đến hòm sắc văn và lễ vật kiệu ông Thông Linh chuyển lên toạ vào bên trái. Cuối cùng là hòm sắc văn và lễ vật kiệu ông Trạc Linh chuyển lên đặt vào bên phải, theo thứ bậc quan chức, nghĩa vợ chồng, đạo cha con.
Các kiệu được chuyển về các góc đình, đặt lên các giá đỡ kiệu.
Đến đây, kết thúc lễ rước đêm, phần mở đầu của lễ tiệc xướng ca, khánh hạ làng Phù Liễu.
Lễ rước đêm làng Bì La
Làng Bì La nay thuộc xã Đồng ích huyện Lập Thạch có lễ rước đuốc mở lễ vào buổi chiều từ ngày mùng 10 tháng 11 hàng năm.
Làng có miếu thờ 5 vị:
- Triệu Việt Vương Quang Phục.
- Trương Hống.
- Trương Hát.
3 vị này có chữ hiệu ghi trên bài vị. (Dòng chữ thánh tâm).

- Thần hiệu đức vua Lự cả thần nguyên soái trung dực Triệu Vương áp đốc đô tướng uy hiển đại vương kim tề thượng đẳng.
- Thần hiệu đức ông chàng Cả thái uỷ Trương Công Hống tôn thần đại vương.
- Thần hiệu đức ông chàng Hai thiếu uỷ Trương Công Hát tôn thần đại vương.
Cùng 2 vị nữ thần có công âm phù, có duệ hiệu:
- Thần hiệu đức thánh Bà Nàng Nữ ả đại vương đi đầu. Do hai thiếu nữ rước. Trên võng đặt mộc bản duệ hiệu của Bà.
- Võng của bà Sơn Hà Nhị Nàng đại vương đi thứ hai. Do hai thiếu nữ rước. Trên võng đặt mộc bản duệ hiệu của Bà.
- Kiệu (bát cống) của vị Trương Công Hống tôn thần đại vương. Trên bành kiệu đặt long ngai, bài vị.
- Kiệu (bát cống) của vị Triệu Vương áp đốc đô tướng uy hiển đại vương - Trên bành kiệu đặt long ngai, bài vị.
- Kiệu (bát cống) của vị Trương Công Hát tôn thần đại vương. Trên bành kiệu đặt long ngai bài vị.
Buổi đêm vào tiệc xướng ca.
Các bài vị được thờ tại đình, đến ngày mùng 7 tháng Giêng năm sau, rước về miếu “hoàn cung”.
Lễ rước xưa được tổ chức hàứng năm. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, lễ rước không được tổ chức.
Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, lễ rước được tổ chức một lần. Nhưng đến nay lại không tổ chức nữa.
Lễ rước về đình Cả Đông Lai xã Bàn Giản:
Bàn Giản xưa có 4 thôn: Thôn Đông Lai, Thôn Thạch Trụ, Thôn Ngọc Xuân và thôn Hoa Giang.
Mỗi thôn thờ một vị thần là 4 người con của Lạc Long Quân và âu Cơ theo mẹ lên non, được phân trấn trị ở vùng Bàn Giản.
4 vị có cuộc hội ngộ vào trưa ngày 25 tháng 2 để chơi trò “quần đả cầu quả hí tiếu”, tục gọi là cướp phết, và hiển thánh để quốc công Trần Hưng Đạo được biết.
Để diễn lại sự tích “đá cầu” dân 4 làng tổ chức một kỳ hợp tế tại đình công đồng toạ ở đất thôn Đông Lai, nên gọi là đình Cả Đông Lai.
Một cuộc rước thật hoành tráng để thỉnh 4 vị của 4 thôn về dự một đêm ở đình Cả được tiến hành.
Tiến trình của lễ rước:
Xưa kia tổ chức vào trưa ngày 24 tháng 2. Từ ngày có cải lương hương chính chuyển sang ngày mùng 7 tháng Giêng, là ngày tiệc kỳ phúc chung cho 4 thôn.
Bởi vậy lễ rước bắt đầu từ giờ Ngọ (từ 11h - 13h) của ngày mùng 6 tháng Giêng.
Nghi thức rước gồm:
4 thôn tổ chức rước 4 kiệu, trên bành kiệu đều đặt bài vị thần Thành Hoàng làng của thôn mình. Trong đó thôn Đông Lai thờ vị anh cả trong 4 người, thôn Thạch Trụ thờ anh thứ 2, thôn Ngọc Xuân thờ anh thứ 3 và thôn Hoa Giang thờ em út. Giờ Ngọ ở 4 đình khởi kiệu hành theo các cung đường khác nhau về tề tựu ở cổng đình Cả.
Theo thế thứ, lễ nghĩa trong gia đình kiệu anh cả Đông Lai tiến lên trước vào đình.
Tiếp theo, kiệu anh 2 tiến lên vào đình. Rồi lần lượt đến kiệu anh 3 và em út cùng tiến vào đình.
Tới trong đình, các quan viên 4 thôn lần lượt rước bài vị các thánh toạ thành hàng theo thứ bậc anh em:
Bài vị anh cả toạ ở giữa.
Bài vị anh hai toạ lạc bên trái anh cả.
Bài vị anh ba toạ lạc bên trái anh hai.
Bài vị em út toạ lạc bên phải anh cả theo thứ bậc tả (trái), hữu (phải)
Trong lễ rước, mỗi kiệu thánh đều có vác quả phết đi kèm.
Khi các thánh đã vào chính vị, các quả phết được bày ngang hàng chính diện. Người dân làng Bàn Giản quan niệm rằng: việc các thánh hàng năm hội tụ lại với nhau một lần là nhằm tổng kết năm cũ và tìm ra các phương sách để trợ giúp cho nhân dân mình trong năm tới. Vì thế, lúc này các ngài cần yên tĩnh để “bàn bạc” với nhau.
Bởi vậy, công việc chuẩn bị cho 4 làng cùng vào đám và lễ rước trở nên rất thiêng liêng. Trước khung cảnh 4 kiệu Thánh gặp nhau dân 4 thôn cũng rất xúc động bồi hồi.
Lễ rước kiệu 2 làng khu Tây (Tây Thượng - Tây Hạ):
Làng khu Tây (hay Tây Khu) hình thành cùng với sự trị nhậm của vị tướng quân Trương Định Xá có công đánh Thục Phán cùng trong hội đồng tướng lĩnh với Tản Viên Sơn tam vị đại vương, về sau được phong làm Thành hoàng làng, nhân dân làng Khu Tây thờ ông ở 2 điểm:
- Miếu khu Tây, nơi sinh ra ông trong một lần thân phụ và thân mẫu lên cầu tự ở núi Tam Đảo theo con đường sông Đáy, lên trú đêm ở nơi này.
- Đình Gò Quán là đình của làng khu Tây.
Về sau, do dân số phát triển, những công việc dãn dân tự động hình thành, lâu dần trở thành 2 cộng đồng cư trú riêng ở 2 nơi. Về sau trở thành 2 làng: làng Tây Thượng dân anh, làng Tây Hạ dân em. Từ đó nhu cầu tâm linh thờ cúng cũng phát triển. Ngôi đình Gò Quán trở nên không còn hữu ích, người ta đã đốt bỏ, và mỗi làng xây một đình mới là đình Tây Thượng, đình Tây Hạ, đồng thời quy ước với nhau: Hàng năm, vào sáng mùng ngày mùng 3 tháng Giêng, cả 2 làng đều có lễ rước thánh khởi từ đình làng mình đến miếu tế chung.
Trong lễ tế ở miếu có 2 vị chủ tế cùng vào, là đại diện của 2 làng nghinh thỉnh đức Thánh về dự tiệc tại đình để làng vào đám mở hội. Tất nhiên theo thế thứ. Thánh về nhà con trưởng ở Tây Thượng vì vậy kiệu làng Tây Thượng là kiệu trần còn kiệu làng Tây Hạ có mái tre (kiệu long đình).
Trong cuộc rước, hai làng cùng khởi kiệu 1 giờ nhưng đường xa, kiệu làng Thượng bao giờ cũng đến sau, tuy nhiên kiệu làng Hạ cứ đứng ở cánh đồng trước cửa miếu, chờ cho kiệu làng anh đến và vào miếu trước, rồi kiệu làng em mới tiếp sau. Khi tế xong, trở ra về cũng vậy, kiệu làng Thượng ra khỏi cổng miếu, rẽ xong phần đường, kiệu làng Hạ mới từ từ ra khỏi miếu về làng. Trật tự ấy, sự tôn huynh trưởng ấy trong gia đình, trong làng xã trật tự đến cả chốn đền miếu tôn nghiêm, thật đáng kính biết nhường nào.
Lễ rước đến nay hàng năm vẫn thực hiện. Trong khi rước đều vác quả phết đi kèm.
Lễ rước kiệu xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường:
Xã Đại Đồng ngày nay, trước năm 1945 là 2 xã Bích Đại và Đồng Vệ thuộc tổng Đồng Vệ, phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên. Xã Bích Đại có đình, xã Đồng Vệ có miếu, đều là di tích thờ vị Đinh Thiên Tích, một vị tướng có công dẹp giặc ân thời Hùng Vương thứ VI.
Trong năm, có 2 lễ rước kiệu:
Lễ rước kiệu gồm có bát nhang (rước chân nhang) vào ngày 20 tháng Giêng, mở đầu tiệc kỷ niệm ngày sinh có lệ “giao điệt” tức tiệc vật. Kết thúc vào ngày 24 tháng Giêng. Rước kiệu 16 người khiêng (thập lục cống).
Lễ rước kiệu ngày mùng 10 tháng 9, có tiệc “xướng ca”, khai sắc, khánh hạ. (mừng được phong tước). Rước bài vị.
* Lễ rước ngày 20 tháng Giêng.
Công việc chuẩn bị:
Sáng ngày 19 có lễ mở cửa miếu, đình, phong y, cờ, tàn, quạt, chồng kiệu tại miếu.
Buổi chiều, 14h có lễ cáo tiệc.
Buổi tối: 19h có lễ túc trực đêm
Buổi đêm 24h ngày 20. Rước bát nhang (rước bộ của ban tri lễ) từ miếu về đình Bích Đại.
- Tiến trình lễ rước ngày 20 tháng giêng,
Buổi sáng lễ tế tiệc ở đình Bích Đại.
Buổi trưa từ 11h30’ tập trung người cao tuổi trong dân cùng quân “hàng hoá” (chân khiêng kiệu) của Đồng Vệ hành quân xuống đình Bích Đại.
Dân 2 làng trang bị quần áo, phương tiện như cờ, tàn, quạt, lỗ bộ, chuẩn bị lễ rước.
Buổi chiều, đúng 13h, lễ khởi hành rước kiệu lên miếu.
Trong các lễ rước kiệu ở Vĩnh Phúc, duy nhất ở xã Đại Đồng là có hiện tượng “kiệu bay”, hay “kiệu quay”. Nghĩa là khi hành trên đường, đoàn kiệu không khoan thai nghi vệ như ở các lễ rước khác, mà luôn luôn náo động như: Chạy trên đường, dồn ép các đoàn nghi vệ theo kiệu, kể cả người theo kiệu để xem cũng phải chạy theo. Hoặc đang hành nghiêm trang, rồi xuất thần quay nhiều vòng ở nhiều điểm khác nhau, mỗi điểm quay 1 vòng hoặc nhiều vòng, làm nên một sự huyên náo, dồn ép thực sự, nghi vệ theo đoàn rước trở nên sộc sệch tản tác, không còn nghiêm trang như ban đầu vào lễ rước. Không kể đến hiệu lệnh của viên điều hành cầm trống khẩu đi trước kiệu và ý chí của các chân hàng hoá. Những hiện tượng lạ như thế, nhân dân xã Đại Đồng gọi là “kiệu bay”.
Dân địa phương cho đó là hiện tượng “Thánh ứng”, bởi vị Thánh là một võ tướng nên mọi hành vi không được mấy từ tốn và trong tiệc thánh, việc tiếp khách ăn uống của mọi cũng nhà không phải kiêng kị cầu kỳ.
Nhiều ý kiến thắc mắc về hiện tượng lạ này. Nhưng trước hết để kiệu “bay” được thì có lẽ nên giải thích bằng sự hưng phấn tâm linh cộng đồng. Còn kiệu đang bay mà không có hiện tượng đổ vỡ thì nên giải thích bằng sự cân bằng trọng lực trong trạng thái chuyển động, bởi chân đế rộng trong 3 tầng phân lực và các lực cuối cùng các tay đòn khiêng đều phân thành 4 cụm trong mặt phẳng nằm ngang, tạo nên một chân đế rộng, cố kết vững bền và đều bằng chịu lực.
Lễ rước ngày nay vẫn được duy trì đều đặn ở xã Đại Đồng.
Lễ rước ngày mùng 10 tháng 9:
Trình tự tiến hành như sau:
Ngày mùng 9 tháng 9
- Buổi sáng: Lễ mở cửa miếu, cửa đình, phong y chồng kiệu
- 14h cùng ngày: Lễ cáo mở tiệc
19 giờ cùng ngày: Lễ trực đêm ở hai bên miếu đình
Ngày mùng 10 tháng 9
- Buổi sáng: Lễ vào tiệc ở miếu
- Buổi trưa: 12h, người cao tuổi trong dân, cùng các chân “hàng hoá” ở đình Bích Đại trang bị quần áo, phương tiện cờ, tàn, quạt, lỗ bộ hành quân lên miếu đóng kiệu.
- Đến 13h, lễ khởi hành rước kiệu xuống đình. Kiệu hạ tại đình. Rồi vào lễ đại tế tiệc. Kiệu để lại đêm ở đình. Tối tổ chức tiệc xướng ca mừng nhà thánh (hát ca trù) ở trong đình và lễ thờ đêm.
Ngoài sân đình tổ chức hát chèo.
Ngày 11 tháng 9
- Buổi sáng: Khoảng 7h30’, các thành phần ở miếu gồm có người cao tuổi, các chân “hàng hoá” tập trung ở miếu để trang bị quần áo, phương tiện, cờ, tàn, quạt, lỗ bộ hành quân xuống đình đón kiệu. Đúng 8h, lễ khởi kiệu rước lên miếu. Khi đến chùa, hạ kiệu, tổ chức hát ca trù gọi là tích hát “đãi bà hàng nước” (sự tích có trong thần phả).
Xong khúc hát, tiếp tục rước kiệu lên miếu. Hạ kiệu ở miếu. Tế tiệc tại miếu (1).
Buổi tối hát thờ trong miếu (hát ca trù). Ngoài sân miếu hát chèo. Đến 12 giờ đêm, tổ chức phù giá hồi hương về đình.
Ngày 12 tháng 9: Tổ chức diễn các trò
Ngày 13 tháng 9:
- Buổi sáng 7h30: Tập trung xuống đình đón kiệu
- 8h lễ rước kiệu thánh từ đình lên miếu. Hạ kiệu ở miếu. Thờ và túc trực qua đêm.
Ngày 14 tháng 9:
- Khoảng 8h. Tế lễ ở miếu
Lễ tạ ở đình. Đóng cửa đình và miếu. Lễ kết thúc vào khoảng 12h.
Lễ rước làng Bến xã Liên Hoà - Lập Thạch:
Lễ rước 3 kiệu, bởi làng thờ 3 vị thần thời Hùng Vương thứ XII (Vũ Vương), ở 2 điểm:
- Miếu làng Bến.
- Đình làng Bến.
Miếu là nơi yên tĩnh của các thần. Đến ngày làng vào đám mở tiệc mùng 7 tháng Giêng hàng năm nghinh thỉnh 3 thần về đình.
Tiến trình trong 2 ngày như sau:
- Ngày mùng 6 tháng Giêng:
15h - Lễ cáo tế.
19h30 - Có lễ rước bánh thờ.
21h - Lễ đại tế.
- Ngày mùng 7 tháng Giêng chính tiệc:
8h lễ khai mạc, dâng hương ở đình.
8h30 khởi lễ rước từ đình ra miếu.
Cỗ kiệu cửu long của Trần Minh Tự đi đầu.
Cỗ kiệu của Ngật Tuấn Cao Sơn đi giữa.
Cỗ kiệu của Hoàng Ngự Chiếu đi cuối.
Tới miếu hạ kiệu. Làm lễ yết, thỉnh các thánh về đình ở trước cửa miếu. Xong lễ yết, rước 3 kiệu thánh về đình.
Sau khi nghinh các bài vị thánh lên thần điện, làng mở hội nấu cơm, chọn nồi cơm đoạt giải nhất dâng tế đức Thánh cả Ngật Tuấn Cao Sơn.
Lễ rước kiệu “song hành” 2 làng Trung Hậu - Nhân Lý:
Nay là hai thôn thuộc xã Tề Lỗ huyện Yên Lạc. Hai làng cùng thờ vị thần Bạch Hạc Tam Giang thượng đẳng phúc thần, do vậy 2 làng cùng lập 2 di tích thờ cúng chung:
- Một di tích là miếu, thần điện có tượng và bài vị sơn son thiếp vàng, có mũ, áo hia đai.
- Một di tích là đình chung của 2 làng. Có 2 cỗ kiệu để khi rước, để 2 kiệu “song hành” (2 kiệu cùng đi) cùng mở lễ hội vào ngày mùng 5 tháng Giêng, có lễ rước từ miếu về đình vào đám. Tan hội lại rước từ đình về miếu “hoàn cung” yên vị tại miếu.
Sở dĩ như vậy vì mỗi làng có một kiệu của làng mình, biểu thị một tâm linh văn hoá. Nhưng 2 làng lại là 2 cộng đồng cư trú có cương giới khác nhau, với các quan hệ về chính trị, xã hội riêng rẽ, nên trong lễ rước (quan hệ văn hoá) hai làng bình đẳng trước thần linh, kiệu sánh đôi đi ngang nhau, không làng nào trước. Trong sinh hoạt chung về công việc thần thánh, nhưng vẫn riêng về sinh hoạt chính trị, khu vực.
Lễ rước kiệu ở xã Tứ Trưng
Tứ Trưng thuộc huyện Vĩnh Tường, nay còn 3 thôn là Văn Trưng, Thế Trưng (hoặc Hiển Trưng) và Vĩnh Trưng.
3 thôn có chung ngôi đình, gọi là đình Rưng, phân làm 7 phần trách nhiệm:
- Văn Trưng đứng đầu, có 4 phần đình
- Thế Trưng thứ hai, có 2 phần đình
- Vĩnh Trưng có một phần đình
Ngày công việc, dân thôn lên ngồi theo phân góc của mình.
Trong thần điện đình thờ 2 cỗ bài vị đặt trong long ngai.
- Một bài vị của ông Nguyễn Văn Nhượng, người làng Hiển Trưng, làm quan Thông phán ở Đông Kinh (Hà Nội ngày nay) dưới triều Lý Cao Tông (1176 - 1210), có công chống giặc, khi mất được thờ ở 4 thôn làng (làng Bảo Trưng nay thuộc về xã Phú Đa) thờ cúng.
- Một bài vị của bà “Vua Lão Tiên bà”, công chúa Chiêm Thành, tử nạn ở sông Tam Đái, thuộc địa phận xã Tứ Trưng.
3 thôn còn có chung 2 ngôi miếu:
Miếu Đức ông, bên bờ đầm Rưng là miếu thờ ông Nguyễn Văn Nhượng.
Miếu Đức Bà, ở địa phận làng Vĩnh Trưng thờ bà Vua Lão Tiên.
Sáng mùng 6 tháng Giêng hàng năm có lễ rước 2 kiệu. Khởi rước từ đình.
Kiệu Đức ông lên miếu Đức ông.
Kiệu Đức Bà về miếu Đức Bà.
Sau khi làm lễ nghinh thỉnh (mời lên kiệu để rước) ở hai miếu, lại tiến hành lễ rước 2 kiệu về đình.
Nghi thức khi kiệu lên đình như sau:
Kiệu Đức ông lên cổng đình trước, kiệu Đức Bà lên sau. Hai kiệu dừng lại.
Sau đó kiệu Đức ông lùi lại phía sau 3 bước, nhường kiệu Đức Bà, ý nghĩa vì Đức Bà là con vua nước láng giềng. Kiệu Đức Bà vào đình nhưng sau đó lại lùi lại 3 bước, nhường kiệu Đức ông vào đình trước, yên vị.
Xong lễ rước, vào lễ tế, lễ vật có cam và rượu. Làng mở hội 5 ngày.
Lễ rước này từ năm 1946 đến nay chưa được thực hiện lần nào. Lý do là ngôi đình Rưng do tiêu thổ kháng chiến không còn, nên không có không gian văn hoá thực hành lễ rước.
Địa phương cũng đang có dự định khôi phục lại lễ hội chợ Rưng với đầy đủ 3 không gian văn hoá: Đình Rưng, Chợ Rưng và Đầm Rưng.
Lễ rước ở làng Bạch Trữ xã Tiến Thắng huyện Mê Linh
Làng Bạch Trữ thờ 2 vị thần:
- Một vị là bà Công chúa Ngọc Hoa, con gái của vua Hùng Duệ Vương, phu nhân của đức Tản Viên Sơn Thánh. Người có công chiêu dân và lập ra làng Bạch Trữ, một vùng “Nam thiên cổ tích địa” (đất dấu cũ của trời Nam).
- Một vị là Đại vương Cống Sơn, một vị văn quan mưu sĩ của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và kỷ Trưng Nữ Vương, có công khai hoá văn tự cho làng này.
Làng có tiệc vào đám 6 ngày, bắt đầu từ mùng 10 tháng 8 đến hết ngày 15 tháng 8.
Trong tiệc có lễ rước vào 2 ngày mùng 10 và 15. Để có lễ rước, làng mua sắm 2 cỗ kiệu bát cống (8 người khiêng):
Kiệu của bà công chúa Ngọc Hoa, có mái che, còn gọi là kiệu “long đình”.
Kiệu của ông Đại vương Cống Sơn là kiệu trần. (Kiệu không có mái che).
Nghi thức rước như sau:
Ngày mùng 10: rước 2 kiệu từ đình về miếu thờ cúng. Khi ấy làng mở hội tại đình.
Ngày 11 rước hai kiệu từ miếu về đình. Ngày 15 tế yên vị tại đình. Trong hành rước, bao giờ kiệu của bà Ngọc Hoa cũng ở trước kiệu ông Cống Sơn. Có như thế thì “làng mới yên” và trong lễ rước “kiệu không bị đổ”, tức “kiệu bà đi trước kiệu ông” xếp theo thời đại. Ngày nay vẫn thực hành lễ rước hàng năm.
Lễ rước 4 kiệu xã Xuân Lôi - huyện Lập Thạch
Xã Xuân Lôi có 4 thôn làng: Làng Dò, làng Cây Phấn, làng Lục Thụ, làng Voi. Cả 4 làng đều có 4 ngôi đình, là thần điện thờ Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh, các vị tướng thời vua Hùng Duệ (Hùng Vương thứ XVIII).
4 làng có chung một ngôi đền thờ vị Quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải và Chiêu Văn đại vương Trần Nhật Duật gọi tắt là đền Tam Thánh.
Sau hơn 50 năm không cúng lễ, ngày nay các nghi thức lễ tế và lễ rước được phục hồi, đồ tự khi mua sắm mới.
Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, có lễ rước kiệu thánh từ 4 đình lên hợp tế ở đền Tam Thánh. Tế xong lại nghinh thánh trở về đình làng mình tế yên vị.
Lễ rước kiệu làng Hoàng Vân
Làng Hoàng Vân trước năm 1945 là đơn vị hành chính cấp xã thuộc tổng Hội Hạ huyện Tam Dương, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.
Làng có ngôi đình lớn, chung cho 7 giáp, gồm 5 giáp cũ là Giáp Đoài, Giáp Bắc, Giáp Ngòi, Giáp Mới và Giáp Đỗ. Về sau, thành lập thêm 2 giáp mới nữa là Giáp Đồng và Giáp Hóc. Các giáp chịu sự phục vụ lễ tế và lễ rước đình làng. Nay là thôn Hoàng Vân, xã Hoàng Đan, huyện Tam Dương.
Thành hoàng làng Hoàng Vân gồm 5 vị, là các nhân vật thời Hùng Vương, có công trị thuỷ ở vùng sông Đáy, thuộc khu vực Hoàng Vân (làng toạ lạc bên bờ tả sông Đáy). Các vị đều có tên huý và tên hiệu như sau:
- Vị thứ nhất là Thập Ngũ Lang hoàng tử, tên huý là Cả.
- Vị thứ hai là Thập Lục Lang hoàng tử, tên huý là Minh.
- Vị thứ ba là Thập Thất Lang hoàng tử, tên huý là Ngũ, sau được phong hiệu là Ngũ Giang.
- Vị thứ tư là Thánh Nữ Công Chúa, tên huý là Ma Ni Sam Quân.
- Vị thứ năm hiệu là Dương Thiệu hoàng nữ.
Một năm, làng có 4 tiệc lớn:
- Tiệc ngày mùng 4 tháng Giêng. Tiệc ngày sinh
- Tiệc ngày 12 tháng Giêng. Tiệc “Thiết vị, Phân vương “
- Tiệc 20 tháng 5. Tiệc ngày hoá
- Tiệc ngày mùng 10 tháng 9. Tiệc “Quy sơn - quy hải” là tiệc trả ơn trả nghĩa của dân làng.
Trong 4 tiệc kể trên, có 2 tiệc có tổ chức lễ rước kiệu là: Tiệc: “Phân vương thiết vị” ngày 12 tháng Giêng và Tiệc ngày hoá 20 tháng 5.
Lễ rước ngày “Thiết vị phân vương”
Làng thờ 5 vị thần thành hoàng nên tổ chức 5 kiệu rước. Do trong cuộc kháng chiến 9 năm (1946 - 1954), làng Hoàng Vân giáp gianh bốt Vàng làng Đan Trì cùng xã, đình làng Hoàng Vân bị tiêu huỷ, các đồ tự khí và 5 cỗ kiệu cùng các văn tự đều không còn, nay đền dựng lại trên nền cũ, toạ lạc theo hướng cũ và tạo mới 5 cỗ kiệu, cùng 5 cỗ bài vị.
Cả 5 cỗ kiệu đều do thợ của làng tu tác, không còn theo được quy cách truyền thống, song đều là tâm linh hướng nguồn và lòng chân thiện, nên rất được cộng đồng trân trọng.
Bảy giáp xưa kia, nay chia làm 5 xóm, mỗi xóm tạo một cỗ kiệu, và ngày thường lưu giữ, bảo quản ở xóm mình. Tới ngày có lễ rước, mới nghinh kiệu ra hội ở đình, để thỉnh bài vị và phong y. Khi hành rước, mỗi xóm rước kiệu của mình. Sau lễ rước lại nghinh kiệu về xóm để lưu giữ.
Bảy giáp xưa, nay chia theo lối “Thiết vị phân vương” như sau:
- Giáp Đồng và Giáp Mới, rước cỗ kiệu có bài vị của Thập Ngũ Lang hoàng tử, lên là Cả (có lẽ là anh Cả) đi đầu.
- Giáp Đỗ rước cỗ kiệu có bài vị của Thập Lục Lang hoàng tử tên huý là Minh đi thứ hai.
- Giáp Đoài rước cỗ kiệu có bài vị của Thập Thất Lang hoàng tử, tên huý là Ngũ đi thứ ba.
- Giáp Ngòi và Giáp Hóc rước cỗ kiệu có bài vị của Thánh nữ công chúa, tên huý là Ma Ni Sam Quân đi thứ tư.
- Giáp Bắc rước cỗ kiệu có bài vị của Thánh Dương Thiệu hoàng nữ.
Đến giờ khởi kiệu, cả 5 kiệu lần lượt ra khỏi cổng đình (không có lễ tế “phụng nghinh”) lên bờ đê.
Đường khởi kiệu là từ đình đến miếu, lộ trình khoảng 2000 mét. Rồi tiếp tục xuống dốc đê, hành qua đồng, tiếp tục men theo bờ sông Đáy ở bên trái sông, ngược lên miếu, gọi là “miếu Đồng Nghè”.
Miếu ngày này chỉ còn là một khoảng đất trống, tuy nhiên, vẫn là đất thiêng liêng của làng Hoàng Vân.
Mỗi lần hành lễ rước, đến điểm ngoặt bờ sông, các kiệu dừng lại nghỉ. Lúc này vị chủ tế lội xuống sông lấy nước, thay nước để vào miếu tế lễ.
Cả 5 cỗ kiệu được sắp đặt theo hàng ngang, theo một thiết chế như sau: thứ tự các kiệu theo dãy các số:


5                   3                     1                  2                  4



Các số 2 và 4 là ở bên “tả” (bên trái)
Các số 3 và 5 là ở bên “hữu” (bên phải)
Còn kiệu số 1, kiệu của anh Cả Thập Ngũ Lang hoàng tử ở giữa. Sắp xếp như vậy là theo trật tự “huynh đệ” anh em trong số 5 vị thần thánh mà làng Hoàng Vân tôn thờ.
Cũng vì thế mà lễ rước này gọi là “thiết vị - phân vương” nghĩa là chia ngôi vương - đặt chỗ ngồi, hưởng tế lễ.
Sau khi sắp đặt xong các cỗ kiệu và bày biện xong đồ nghi trượng, cuộc đại lễ bắt đầu.
Lễ tiết kết thúc, các kiệu lại nghi thức như khi rước đi để trở về đình. Về tới đình, 5 cỗ bài vị được yên vị trên thượng cung đình.
Đặc điểm của lễ rước làng Hoàng Vân sáng ngày 12 tháng Giêng là không có lễ tế “phụng nghinh” và lễ tế “yên vị” theo nghi thức truyền thống.
Lễ rước ngày 20 tháng 5
Buổi sáng, hội 5 kiệu ở đình rồi tiến hành nghinh rước ra miếu Đồng Nghè tế lễ, như lễ rước sáng ngày 12 tháng Giêng.
Tháng 5, thuộc mùa lũ, nhất là con sông Đáy thường có lũ đột ngột, bất ngờ và nhanh chóng nên năm nào vào ngày này gặp mưa lũ thì tiến hành rước từ bờ đê ra miếu bằng thuyền. Tuy vất vả, nhưng lễ rước vẫn phải tiến hành.
Bởi vậy, mới có câu ca như sau:
Hoàng Vân có tiệc 20
Cầu trời nắng nỏ cho tươi cỗ đòn (Tức đòn kiệu).
Lễ rước dưới nước
Vĩnh Phúc hiện có 7/9 huyện thị có lãnh địa và một phần lãnh địa nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, và cuộc sống dương thế cũng như cuộc sống tâm linh bị điều phối bởi các dòng sông: “Phúc như xuyên chí” (dòng sông mang đến giàu sang).
Những lễ hội diễn ra trên sông nước hiện vẫn còn. Ngoài các lễ rước nước còn có các lễ rước kiệu thần trên sông.
Lễ rước của làng Phú Thị
Làng Phú Thị nay thuộc thôn Quan Tử xã Sơn Đông huyện Lập Thạch, toạ lạc bên bờ tả sông Lô, có 2 di tích tín ngưỡng thờ thần:
- Miếu Đông Hồ là nơi bằng an của 3 vị thuỷ thần, toạ lạc ở bến Đông Hồ, bờ tả sông Lô. Nơi đây ngày 26 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429) Tả tướng quốc triều vua Lê Lợi là Trần Nguyên Hãn tự trầm.
- Đình Phú Thị ở giữa làng, cũng toạ lạc bên bờ tả sông Lô, cách miếu Đông Hồ khoảng 1.500 mét về phía hạ lưu.
Đình cũng thờ 3 vị thuỷ thần như ở miếu, còn thờ vọng Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, đều có sắc phong.
Tiệc làng Phú Thị tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 10 hàng năm. Chiều mùng 5 tổ chức lễ cáo tế ở miếu.
Cuộc nghinh rước 2 cỗ kiệu bát cống đều dùng bằng thuyền nan bơi ngược lên miếu Đông Hồ. Các đồ tự khí nghinh rước như lỗ bộ, tàn, tán, các loại cờ, lọng che và các lễ vật đều được chuyển xuống thuyền.
Phương tiện bằng thuyền đều là của các chủ thuyền tư gia làng Phú Hậu (làng chuyên về chở đò xuôi ngược - nay cũng thuộc xã Sơn Đông) gia tâm. Các thuyền thường đã tụ tập từ buổi sáng sớm ngày mùng 5 xếp hàng thứ tự mong được tập phúc, cầu mong sự may mắn thuận lợi trên đường sông sóng gió.
Cuộc rước bắt đầu, hai cỗ kiệu thần trịnh trọng từ trong đình qua cổng đình, rồi xuống bến.
Cuộc rước kéo dài trên sông, cờ bay trước gió, đàn sáo vang lừng. Thuyền hàng dài dưới nước. Người dân 2 - 3 làng lân cận đi xem lũ lượt, dọc trên bờ sông. Một không khí lễ hội hân hoan rộn lên, vừa háo hức, vừa thiêng liêng.
Đoàn thuyền cập bến Đông Hồ, đoàn rước chuyển nghinh kiệu thánh vào miếu, bắt đầu bằng lễ tế cáo. Các quan viên trong làng chầu trực một đêm.
Sáng mùng 6 mở lễ chính tế. Tế xong lại tổ chức rước quay về, nhưng không hành bằng đường thuỷ. Đám rước đi đường bộ, qua làng Quan Tử, qua chợ Gốm rồi rẽ trở lại bến sông, về đình.
Nghi thức rước như thế gọi là “xa giá hồi loan” nghĩa là xe vua ngự giá về cung (tức về đình)
Mỗi năm làng Phú Thị tổ chức một lần rước như thế. Đến nay lễ rước này chưa được khôi phục.
Lễ rước 3 làng Me
Đó là 3 làng cũ thuộc tổng Nghĩa Yên huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường nay là huyện Vĩnh Tường, gồm:
- Làng Đình.
- Làng Vó.
- Làng Da.
Nay thuộc 2 thôn Hạc Đình - Phủ Yên xã Yên Lập. Đó là lễ rước trên sông Đáy trong lễ hội bơi chải vào tháng 5, mùa sông nước.
Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ 24 đến 26. Ba làng có 3 chải để thi bơi.
Ngày 25, trước khi vào thi chính thức lấy giải, (hội bơi) có lễ “bơi trình thuyền”, trình tự buộc kết 3 chải thành một chải lớn. Trên chải lớn có chồng một cỗ kiệu bát cống, gọi là “kiệu thờ”.
Cuộc bơi từ cửa đình sang gò Cội Nụ ở giữa đồng, gọi là gò Ba Chạ, đối diện đình Me (đình chung 3 làng), ý nghĩa là nghinh đón Đức Thánh Tản Viên - bạn của vị thành hoàng làng là Đại Đạo Song Nga, có công “âm phù” Hai Bà Trưng cùng về dự hội.
Từ năm 1946 đến nay, lễ hội bơi chải 3 làng Me không còn được tổ chức, tất nhiên không còn lễ rước “bơi dạo trình thuyền”.
Nghi lễ rước nông nghiệp
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là lực lượng và sức mạnh nội sinh tạo dựng nền văn hiến Vĩnh Phúc vài ngàn năm.
Những nghi lễ nông nghiệp như lễ tế cầu mùa trong tín ngưỡng đa thần mở đầu là tín ngưỡng thờ mặt trời (quả cầu), cầu mưa (tế trâu, bơi chải, kéo song…) là điều tất yếu. Tuy nhiên, cao hơn thế, một số làng ở Vĩnh Phúc còn tổ chức các lễ rước cầu mùa cũng là một hiện tượng độc đáo.
Có 2 làng còn nghi lễ rước này.
Rước cây bông làng Cam Giá
Nay Cam Giá thuộc xã An Tường - huyện Vĩnh Tường
Lễ rước tổ chức vào sáng ngày mùng 7 tháng Giêng hàng năm.
Trong lễ rước, làng tổ chức 3 cây bông lớn, đặt lên xe, tổng số có tới 2.000 ré bông, tượng trưng cho bông lúa, bông vải nghĩa là những ước vọng đầy đủ về nhu cầu ăn và mặc, những thiết yếu trong đời sống vật chất mỗi con người.
Cây bông được rước về đình làng làm lễ tế. Sau đó là phần phát lộc bông và cướp bông, nghi lễ thành hội làng: Hội cướp bông.
Rước cây bông làng Thượng Yên
Thượng Yên nay thuộc xã Đồng Thịnh huyện Lập Thạch, tọa lạc trong vùng đồi điển hình của huyện Lập Thạch. Dưới chân đồi là các xứ đồng chiêm chũng bị cắt vụn bởi các doi đất dọc ngang.
Cây trồng chính gồm có lúa chiêm tép là chính vụ cấy vào tháng 11 âm lịch. Ngoài ra còn có cây bông vải, cây họ đậu, cây khoai sắn và cây dứa.
Cuộc sống khó khăn nẩy nở những ước vọng no đủ ấm êm, cầu ở Trời ở Phật hình thành. Một nghi lễ rước cầu mùa ra đời trên thực tế cuộc sống ấy, gọi là “rước cây bông”.
Có 2 thành phần trong đoàn rước:
- Biểu thị thời gian là kiệu “đương niên thần quan”, quan cai trị trong năm chia theo thập nhị chi từ “Tí” đến “Hợi”.
Lễ rước thuộc năm nào thì đề thần hiệu của năm ấy như “Canh Thìn niên” - năm Canh Thìn - hoặc “Tân Tị niên” - năm Tân Tị…
- Có 5 cây bông tiếp theo kiệu quan đương niên do 5 xóm trong làng đảm nhận phần kiến trúc.
Các xóm Trên, xóm Dưới, xóm Doi và xóm Sậu, mỗi xóm dựng một cây bông lúa, bông vải. Xóm Đồi Bằng chuyên dựng 1 cây đỗ.
Cách thức dựng một cây bông:
Dùng thân cây chuối hột (đẵn bỏ lá ngọn và thân củ) dài khoảng 3 - 4m, làm thân trụ cây bông.
Phần đế của cây chuối, cắm 3 cọc tre làm chân đế, để dựng đứng được cây bông, các chân đế bọc giấy mầu trang trí.
Phần ngọn thân chuối, cắm một đoạn tre non dóc thành bông trang trí bằng giấy mầu, gọi là “cây nõn mường”. Trên đỉnh cây nõn nường cắm 1 lá cờ thần, vuông hoặc đuôi nheo, xung quanh thân trụ cây chuối, cắm dày đặc các bông lúa, bông vải làm thành một cây bông sặc sỡ.
Cách thức tạo các ré bông:
Bông lúa được làm bằng các tua cạo từ thân cây tre non, nhuộm mầu vàng (mầu lúa chín). Mầu vàng lấy từ nhân lõi của quả dành dành một loại cây dại thường mọc ở các bờ ruộng, ao chuôm hoặc ven các đồi hoang, có nhiều ở làng Thượng Yên.
Bông vải cũng được làm thành từ các tua tạo từ cây tre non nhưng để nguyên màu “trắng như bông”.
Trong hội rước có 2 cây bông lúa, 2 cây bông vải.
Cách thức dựng một cây đỗ:
Quả đỗ xanh (đậu xanh - hay đậu con) có màu đen làm bằng các thân que nhang đen (loại hương thắp cúng lễ xe bằng mạt cưa với nhựa cây chám rừng).
Quả đỗ đỏ (đậu quốc - hay đậu cả) làm bằng các đoạn ống trúc nhỏ như thân đũa dùng bữa ăn cơm.
Trong thân trụ của cây đỗ, còn tạo hình các loại chim sâu, một loài chim “thiên địch” của sâu bọ, cân bằng trạng thái môi sinh.
Nghi thức rước cây bông:
Sau 3 ngày Tết Nguyên Đán, từ ngày mùng 4 tháng Giêng, các xóm bắt đầu vào dựng các cây bông, mọi công việc đến chiều ngày mùng 6 thì hoàn tất.
Sáng mùng 7, các cây bông, cây đỗ được chuyển tới một địa điểm do xóm đăng cai lựa chọn để tiến hành rước. (Không có tế).
Dẫn đầu đoàn rước là các nhà sư với cành phan trên tay biểu thị sự ban phúc lành của “Phật” rồi đến “đương niên thần quan” là tượng của “Trời”. Kiệu là một chiếc bàn có 4 chân cao tạo bằng tre nứa, gồm 2 thanh đòn dọc để cho 4 người khiêng có trang trí giấy mầu. Trên bành kiệu có bài vị “đương niên thần quan” bằng giấy màu, bên trên có che một chiếc tàn cũng bằng giấy. Trước bài vị đặt mâm ngũ quả và bát hương.
Tiếp đến là các cây bông - mỗi cây cũng 4 người khiêng - các chân kiệu đều là các nam thanh nữ tú trong làng, con nhà lành chưa vợ, chưa chồng. Các cây bông đi thẳng 1 hàng dọc, cây bông đỗ bao giờ cũng ở giữa vị trí.
Xưa kia đoàn rước lặng lẽ trang nghiêm theo vị sư tăng về chùa. Nay có thêm phường nhạc rước, nên không khí rộn rã tưng bừng hơn.
Duy nhất ở làng Thượng Yên có lễ thức nông nghiệp diễn ra ở sân chùa. Có lẽ là do sự bình đẳng giới tạo nên.
Sau đó dài khoảng 1500 mét từ điểm khởi rước, đoàn rước qua cổng chùa, vào sân chùa, đi lên một vòng từ đông sang tây (“thăng đông” - “giáng tây”) ngược chiều quay kim đồng hồ rồi tiến vào giữa sân trước cửa chùa.
Bàn “đương niên thần quan” tiến vào chùa, đặt trước các cây bông đặt trong sân, hướng vào phật điện.
Lễ cúng cây bông:
Lễ thổi tâm linh thiêng liêng vào các cây bông, cây bông từ đây là sản phẩm của phật, của trời, là nguyên khí thiêng liêng của trời đất.
Lễ cúng thực hiện sau khi hoàn tất lễ rước.
Trong lễ, có một vãi già đọc bài “mừng cây bông" nội dung có đoạn:

“… Con thưa các cụ ngồi trên
Để con xuống dưới trông lên con chào
Dân con tiếng cả nhưng nghèo
Dựng lên quả phúc trông vào cây bông
Dân con có hội cây bông
Hội thì “hội lệ” nhưng không có gì
Nhang hoa trà quả trai nghi (lễ đồ chay)
Dâng lên cúng phật, phật thì chứng cho
Năm rằng hội chẳng mở to
Cỗ bàn suông nhạt, thức đồ nhạt suông…”


Cướp bông:
Lễ cúng kết thúc vào buổi sáng. Buổi chiều, khoảng từ 14h trở đi, tiến hành “phá giải cây bông”.
Sau một hồi chuông chùa, mọi người trong làng xô vào cướp bông. Ai nấy đều cố tranh giành lấy được nhiều ré bông, mong được nhiều lộc đầu xuân. Những người cướp được bông mang về nhà, có người đặt lên ban thờ gia tiên cúng lễ, có người cắm lộc bông vào cửa mừng xuân. Còn đa phần ùa ra đồng, cắm lộc bông vào những thửa ruộng nhà mình, cầu cho mùa tới bội thu.
Nghi lễ rước tổ nghề:
Bên cạnh nghề nông là chính (dĩ nông vi bản), nhiều làng xã đã có nghề thủ công chuyên nghiệp ở thời sơ sử. Thời các Vua Hùng đã có làng Hiển Lễ (nay thuộc xã Cao Minh thị xã Phúc Yên) với nghề nặn nồi đất, mà tổ nghề là một phụ nữ, danh tính là Hà Tân, hiệu là Na Nương Thị Lai, còn lăng mộ và thờ ở đình làng Hiển Lễ.
Và có thể từ bà, ở Vĩnh Phúc đã hình thành tập tục thờ cúng các vị tổ nghề.
Các thời đại về sau, do nhu cầu nhiều mặt của xã hội phát triển, thêm nhiều làng tuy không ly nông, nhưng cũng thành những làng chuyên một nghề thủ công tinh xảo.

Bích Chu đan cót đan nong
Vân Giang nấu rượu, làng Thùng đánh dao

Bích Chu nay thuộc xã An Tường huyện Vĩnh Tường có nghề đan cót, đan nong trước khi có nghề mộc tinh xảo như hiện nay. Vân Giang, làng Thùng (Bàn Mạch), thuộc xã Lý Nhân huyện Vĩnh Tường.
Hoặc như:

Kê Tự gánh đá nung vôi
Kê Rau nấu rượu cho người ta mua

Kê Tự (Đại Tự), Rau (Nhật Chiêu) thuộc về huyện Yên Lạc.
Còn nữa:

Kẻ Rưng đi bán cá con…
Kẻ Cánh gánh đất nỉ non nặn nồi

Rưng tức 3 làng Rưng xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường
Cánh tức 3 làng Canh nay là thị trấn huyện Bình Xuyên.
Tuy nhiên di tích các nơi thờ cúng các vị tổ nghề hiện còn rất ít.
Tổ nghề mộc phần nhiều thờ vị Lỗ Ban, vị tổ sư người Trung Quốc. Nay còn thấy có thần chủ phối vào gian bên phải nội điện ngôi đền. Đuông xã Bồ Sao huyện Vĩnh Tường.
Tổ nghề cá, có lẽ thờ ở miếu làng Thế Trưng, xã Tứ Trưng. Nay còn tấm bia “Hoa Ngư tính danh ký”, là tấm bia ghi danh các loại cá là ngư lợi ở nơi đây.
Duy chỉ có nghề gốm, là có sự thờ cúng tổ nghề tôn nghiêm hơn cả.
Tổ nghề gốm ở Hiển Lễ có từ thời Hùng Vương, đó là một phụ nữ được suy tôn làm thánh tổ tiên sư, có sắc phong, còn ngọc phả. Hàng năm làng Hiển Lễ mở tiệc ngày mùng 3 tháng Giêng ở đình. Ngày 28 tháng 12 có lễ tế tại lăng.
Tổ nghề gốm ở Hương Canh (thực chất là xóm Lò Cang - xóm chuyên gốm sành) cũng là một phụ nữ. Bà họ Bùi người quê làng gốm sành Thổ Hà tỉnh Bắc Ninh. Là thiếp yêu của viên quan nội hầu người gốc thôn Sóc Sơn huyện Vĩnh Lạc tỉnh Thanh Hoá là Trịnh Xuân Biền, nguyên do:
Sau cuộc dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Trịnh Xuân Biền đại diện triều đình Lê Trịnh về ban biển sắc tứ “Trung nghĩa dân” cho 3 làng Canh. Nhận thấy dân tình xơ xác đói khổ qua nạn binh đao, ông xin với chúa Trịnh Doanh cho mở lò chế tác đồ cang, vò, chĩnh, vại…
Do có bà thiếp yêu mà nghề gốm sành thành công, dân phiêu tán các làng Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh) và Vĩnh Lạc (Thanh Hoá) theo chân bà họ Bùi, tụ họp lại ở xóm Lò Cang bây giờ hành nghề, và trở thành một địa phương chuyên gốm sành, hình thành một địa danh hành chính: xóm Lò Cang.
Về sau, dân xóm tôn xưng Trịnh Xuân Bền và bà thiếp họ Bùi là “Thánh Tổ”, là “Tiên Sư” của nghề gốm sành, lập nhà thờ tổ, thờ cúng các vị, trong ngày giỗ mùng 6 tháng Giêng, còn thực hành lễ rước.
Sau lễ cúng vào chiều tối, tượng vị Tổ nghề gốm được đặt lên kiệu 8 người khiêng rước đi quanh xóm.
Thành phần đoàn rước có:
- Vị chủ lễ đi trước - Vị này phải là người cao tuổi và giỏi nghề gốm.
- Kiệu cỗ chay, do 4 nữ thanh niên chưa chồng rước.
- Kiệu vị Tổ nghề do 16 người rước, gồm 8 nam và 8 nữ là thanh niên chưa vợ chưa chồng, người của xóm gốm Lò Cang - Cùng đoàn kiệu có 2 chiếc lọng che kiệu. Theo sau kiệu là đoàn người dân xóm Lò Cang xếp thành hàng dài.
Kiệu khởi từ miếu, hành theo đường quanh xóm Lò Cang bắt đầu từ chập tối (giờ Dậu: 17 - 19h) và kết thúc vào nửa đêm (khoảng 24h), lại quay về tới Miếu. Đám rước đi trong ánh đuốc (rước đêm). Kiệu hành qua nhà ai thì nhà đó liền đốt đuốc nhập vào đoàn, và giơ lên chiêm ngưỡng dung nhan vị Tổ nghề.
Người dân ở đây quan niệm rằng, nếu như sắc diện vị Tổ nghề hồng lên là năm ấy xóm gốm Lò Cang làm ăn thịnh vượng. Còn thì trái lại.
Lễ này chỉ giành riêng cho người làm gốm được dự, những người khác không có nghề không được tham gia.
Tới ngày 13 - 14 lại có lễ rước tổ nghề từ miếu về điếm Cang Thượng và Cang Hạ cúng lễ cầu mở nghiệp cho cả năm. Đến ngày 16 tháng Giêng mới rước vị Tổ nghề về Miếu, yên vị.
Ngày 17 tháng Giêng, dân xóm đốt lò, mở cuộc làm ăn của một năm.
Lễ rước Tổ nghề ở xóm Lò Cang từ hơn 50 năm qua không còn được thực hiện. 

 

L.K.T- (Lễ hội Vĩnh Phúc)

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: