Một số trò diễn trong Hội làng ở Vĩnh Phúc

30/07/2013

Các trò diễn như đã đề cập đều mang đậm dấu ấn liên quan đến việc thờ cúng. Trong các bản ngọc phả làng xã ghi chép là yếu tố sự thần, tức là những trò diễn hoặc trò chơi nhất thiết phải có trong ngày tế tiệc đã được quy thức thành văn bản trong một cộng đồng.

                          


Tuy nhiên, cũng có một số các trò diễn không có yếu tố tập thể, mà đơn lẻ là các cá thể diễn trong hội làng, cũng trở thành một tục lệ, và chỉ diễn trong ngày tiệc làng, trước thần điện, cho dù các yếu tố sự thần đã dần bị mai một.
Trước hết là các trò diễn có múa.

Trò múa võ
Là thể loại múa mang tính thượng võ để thể hiện sức mạnh.
Cho đến nay, có thể nhận biết các thể loại múa võ này đã có ở tỉnh Vĩnh Phúc thông qua các hội làng.
Múa bằng tay không:
Là loại hình múa võ không dùng vũ khí, còn gọi là múa quyền.
Hiện nay, loại hình này không còn diễn ra trong các hội làng trên địa bàn tỉnh, song dấu tích thì vẫn còn trong các bức chạm khắc gỗ ở một số đình làng. Điển hình là ở đình Hương Canh thị trấn huyện Bình Xuyên: Đó là hình tượng 2 người đang cởi trần, động tác như múa võ.
Đình Hương Canh được xây dựng vào thế kỷ XVII, thời kỳ ấy, môn múa võ đã thình hành ở các làng xã và được mô tả là một hình thái sinh hoạt hội làng.
Múa võ dùng gậy:
Thường được gọi là múa côn, tức là loại phương thuật dùng gậy để đánh võ, là loại hình múa võ có vũ khí.
Có 2 loại gậy dùng để đánh võ:
- Gậy đơn: là loại gậy chỉ gồm 1 gậy. Loại này lại chia làm 2: Đoản côn: loại gậy ngắn, thường chỉ dài độ 40-60cm vào Trường côn: loại gậy dài, thường từ 150 - 200cm, có đầu bịt sắt nhọn là thiết lĩnh (đỉnh sắt).

Biểu diễn Võ thuật
- Gậy đôi: là gậy có đòn cái và đòn con, được tạo theo quy thức mẹ 7- con 3, nghĩa là đòn mẹ (cái) dài gấp 7 lần đòn con. Hai đầu gậy được nối với nhau bằng dây như cái néo đập lúa trước đây vẫn dùng. Dây neo thường được làm bằng da trâu sống, bằng ruột mèo hoặc bằng tóc người bện lại nên rất dai và chắc chắn.
Ngày nay trò múa gậy diễn ra trong hội làng còn ở đình làng Đôn Hậu phường Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên, vào 7 tháng Giêng hàng năm với gậy đơn.
Sau lễ tế thần, có 2 thanh niên được tuyển chọn vào 1 cặp múa. Sau khi lễ thánh, cặp đôi này dùng gậy đơn, loại gậy dài diễn múa bài côn trước cửa thần điện. Mỗi ngày tiệc có thể dùng tới 3 hoặc 4 cặp đôi vào múa. Bao giờ múa gậy cũng diễn ra mở màn cho các trò sau là reo cầu và móc khểu.
Trong tỉnh có các làng có danh mục múa gậy trong hội làng:
Làng Phù Lập:
Nay thuộc xã Tam Phúc huyện Vĩnh Tường. Có hội múa gậy vào ngày tiệc làng mùng 3 tháng Giêng.
Hội có cả nam và nữ cùng tham gia. Năm 1971 mở hội múa gậy có 2 bà là Mặc Thị Cẩm và Nguyễn Thị Tuất là các tay múa gậy giỏi nức tiếng trong vùng.
Làng Bích Đại, Đồng Vệ xã Đại Đồng huyện Vĩnh Tường có lệ múa gậy vào ngày 4 tháng Giêng.
Làng Văn Trưng, xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường có lệ múa gậy vào ngày hội làng mùng 6 tháng Giêng.
Làng Thượng Trưng, xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường có lệ múa gậy khá độc đáo, gậy là một con sào bằng gỗ bào thật nhẵn, đầu gậy bọc vải thấm phẩm màu đỏ. Khi vào đấu, đối phương bị nhiều chấm đỏ vào áo quần là thua cuộc.
Làng Nghĩa Lập, xã Nghĩa Hưng huyện Vĩnh Tường có lệ đấu thiết lĩnh trong hội làng, ngày 12 tháng giêng.
Nói chung, các cuộc giao đấu là tay đôi, đấu ở sân đình, trước thần điện. Tuy nhiên, cũng chưa rõ tính chất sự thần ở điểm nào, nhưng hội nào cũng có lệ giao đấu. Giao đấu và múa gậy là 2 cách biểu diễn khác nhau.
Qua điều tra điền đã, thấy có 7 làng sau đây có hội lễ đấu gậy tập thể, mang sắc thái Hội.

Một là:
Hội đấu gậy của thôn Yên Lỗ, xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên. Đình Yên Lỗ thờ 3 vị vua đầu thời Tiền Lý (544 - 548).
Hàng năm mở hội đánh gậy vào ngày 10 tháng Giêng trong ngày tiệc làng.
Tuy nhiên, do tính bạo lực của hội này, mà phải tổ chức ở ngoài đồng. Số người tham gia rất đông (gồm cả trẻ chăn trâu bò) chia làm 2 bên. Trong giao đấu, bên nào thua chạy về làng đóng cổng lại. Đến hết hội, cả bên thua và bên thắng đều sửa lễ ra đình lễ thánh.
Cũng chưa rõ sự tích của hội đấu gậy làng này.
Hai là:
Hội đấu gậy giữa hai xóm Đình và xóm Cháo làng Nhật Chiêu huyện Yên Lạc vào đêm rằm tháng 8 hàng năm (đêm trung thu).
Con đường phân 2 xóm được chọn làm gianh giới cho cuộc đấu gậy. Trai tráng trong làng chia làm 2 bên dùng gậy bẩy (gậy dài 7 đốt tre) để giao chiến với nhau. Có lúc 2 bên đánh đối kháng, có lúc dùng lối đánh phục kích như mặt trận, có lúc đánh dồn đuổi nhau.
Trẻ con đi do thám, người già reo hò trợ chiến. Bên nào núng thế bỏ chạy hoặc bị mất vũ khí, hoặc có người bị bắt làm tù binh coi như thua cuộc.
Nếu 2 bên cùng hòa thì tối ngày 16 lại tiếp tục giao đấu. Làng Nhật Chiêu có di tích thờ bà Quách Gia Da Nương hiệu là Khâu Ni công chúa, tướng của Hai Bà Trưng.
Ba là:
Hai làng Tuân Lộ và Phù Chính xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường, có hội gậy từ ngày 4 đến 10 tháng Giêng. Nam, nữ thanh niên tổ chức giao đấu với nhau.
Bốn là:
Hai làng của xã Lý Nhân là làng Vân Giang và làng Đọ có lệ đấu gậy vào đêm 30 Tết. Dồn đấu đến lúc sang canh, rồi về nhà thay quần áo mới đón giao thừa.
Năm là:
Làng Yên Thư, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc, có trò hội mục đồng đánh quân, diễn tả lại sự tích Đinh Bộ Lĩnh tập trận khi qua làng Yên Thư, để đánh dẹp sứ quân của Nguyễn Khắc Khoan ở Vĩnh Mỗ năm 968.
Trò hội tổ chức vào ngày 28 tháng Chạp, gồm các trẻ nhỏ trong làng chia ra làm 2 bên, cầm sào và gậy đánh lộn nhau suốt buổi sáng.
Sáu là:
Làng Bàn Mạch xã Lý Nhân có tiệc hội tế thần vào buổi tối ngày 17 tháng 10. Sau lễ tế, trẻ nhỏ trong làng chia làm 2 bên cầm gậy và roi giao đấu với nhau, gọi là chơi tập trận.
Bảy là:
Hội đánh đòn làng Hương Canh thị trấn Bình Xuyên được tổ chức hàng năm từ ngày 4 đến 6 tháng Giêng.
Xuất xứ của ngày hội là vào ngày 29 tháng 4 năm Canh Ngọ đời vua Cảnh Hưng triều Lê (1450), quân đội của tướng Nguyễn Danh Phương xông được vào làng Hương Canh, sau nhiều ngày vây hãm và bị chống trả quyết liệt.
Trận chiến giữa quân của Danh Phương và nhân dân làng Hương nằm lọt vào giữa tường chùa Kính Phúc và tường đình Hương, đã có tới 600 người bị thiệt mạng. (Giỗ trận vào ngày 29 tháng 4).
Từ sau trận chiến ấy, làng Hương thường có nạn lửa gây cháy nhà, mọi người đều cho đó là oan hồn trận vong đã kết tinh thành con hỏa.
Hội tục đánh đòn từ đó hình thành, mục đích là trấn tinh con hỏa, nhưng thực chất là diễn tả lại sự tích trận chiến ngày 29 tháng 4 năm xưa.
Đòn dùng trong hội tục là chiếc gậy đôi, tết lại theo kiểu mẹ bảy, con ba, được chuẩn bị từ tháng Chạp năm trước.
Thể lệ thi đấu như sau:
Để chuẩn bị quân lương, mọi người trong 3 làng Canh (Hương Canh Ngọc Canh - Tiên Canh), theo đinh suất tự đóng góp vào 1 bát gạo (khoảng 0,3kg) đổ vào nong đặt giữa đình Hương, có 2 công dụng:
Dùng để các đội ăn uống sau khi dự trận.
Dùng để cho vị trùm nước úy lạo người bị thương.
Nếu còn lại thì nấu chín nắm thành cơm nắm. Cắt miếng chia đều cho quân số mang về nhà, gọi là phần quân lương.
Vào giao đấu: sáng ngày 4, vị thủ từ mở cửa chùa Kính Phúc, cho trai đinh 3 làng Canh vào đánh trống, đánh chuông, đánh khánh rền vang, báo hiệu mở hội tục đánh đòn.
Ba làng Canh, chia 2 làng vào giao đấu, 1 làng làm trọng tài phân xử.
Hai làng vào giao đấu đứng đối diện nhau theo tuyến đường, khoảng vừa tầm dài tay đòn. Chiêng trống lại nổi lên, quân đội 2 bên, mỗi người cầm 1 tay đòn, còn văng tay đòn kia về phía đối phương, làm thành một cuộc trận.
Người xem ngồi kín 2 bên tường chùa Kính Phúc, chen chúc nhau, và sôi nổi động viên, hò reo cổ vũ quân làng mình, làm thành một không khí hội hè náo nhiệt hăng say.
Quân bên nào bị đẩy lùi ra khỏi vị trí là thua cuộc.
Lại có một lý do khác về Hội đánh đòn có ý nghĩa nhân văn hơn:
Nguyễn Danh Phương tiến đánh làng Hương Canh, đánh người không thắng, dùng mưu đánh bằng lửa (hỏa công). Xưa kia 3 làng Canh hầu hết là các nhà đều bằng lá, hoặc rơm rạ, nên lửa bắt rất nhanh, cháy mạnh, lan rộng thiêu trụi xóm làng trong chốc lát.
Để tự vệ, dân làng đã tự tổ chức thành từng đoàn, từng đội, trai tráng thì tập luyện võ nghệ. Để chống cháy và chữa cháy, chiếc gậy đôi có sức mạnh nhân lên gấp nhiều lần, khống chế ngọn lửa, và gọi là trấn tinh con hỏa.
Để cho công việc thuần thục, các trai tráng trong làng phải thường xuyên tập luyện. Bãi tập là đoạn đường nằm giữa đình Hương Canh và chùa Kính Phúc, về sau gọi là dãy đánh đòn.
Hàng năm, cứ vào mùa hanh heo, lại tổ chức luyện tập phòng bị. Lâu dần tổ chức thành hội thi tài, cứu hỏa. Đến ngày mùng 4 - mùng 6 tháng giêng, trong không khí mùa xuân, các cơ, các giáp trong 3 làng tập hợp lại cùng nhau thi tài.
Mỗi đội vào thi có 10 người, trang bị 2 chiếc gậy dài và 4 chiếc gậy ngắn. Chia hai bên, có màu thắt lưng xanh, đỏ khác nhau. Hai đội quân dàn kín mặt đường, cách xa nhau khoảng 200m.
Dân các nơi nghe tin mở hội, người đến xem đứng kín vòng trong, vòng ngoài. Tuy nhiên, ai cũng phải đem đến 1 chậu, 1 nồi hoặc 1 lọ đựng nước dự phòng.
Vào cuộc: Ban giám khảo đốt một đống rơm lớn ở giữa đường cho cháy bùng lên, bên cạnh là mô hình các mái lá tranh dễ bắt lửa. Vị chủ khảo phất cờ lệnh, cùng lúc ấy trống chiêng thúc ầm ầm, hai đội quân ở 2 bên đầu đường nhanh chóng vượt qua chướng ngại vật, cùng vác đòn gậy xông vào trận.
Quân xông vào dập lửa, chữa cháy, quân bên đối phương cố tình ngăn cản, nống cho ngọn lửa bùng cháy thêm. Hai bên kịch chiến bằng đòn, không được dùng tay không. Đống lửa có lúc bùng lên, có lúc tắt dụi bởi cuộc đọ sức giữa 2 bên trong tiếng hò reo của người xem, của người cổ động cho mỗi bên.
Khi ngọn lửa có nguy cơ lây lan thành hỏa hoạn, lá cờ đại của ban giám khảo phất tới tấp, tiếng trống ngũ liên gọi cấp cứu vang trời. Các dụng cụ đựng sẵn nước của người đến xem được phát huy tác dụng. Ngọn lửa bị khống chế rồi tắt lịm.
Cứ như thế, cuộc đấu vòng tròn được diễn ra để chọn lấy đội mạnh nhất trao giải thưởng.
Giải là vài mẫu ruộng công (công điền) của làng, đội thắng giải được cày cấy 1 năm để lấy thóc gạo nuôi quân đánh giặc giữ làng.
Hội lâu rồi không được tổ chức vì 3 làng Canh đã ngói hóa, con hỏa không còn phát huy được tính năng của mình, và chấm dứt từ năm 1945 đến nay.
Múa võ dùng dao:
Là loại hình múa võ có vũ khí, con dao, là công cụ cầm tay bằng kim loại sắt thép dùng để cắt, chặt, băm, chẻ, mổ, thái... Tiếng Hán gọi là đao là thứ vũ khí lạnh, gồm có một lưỡi lê sắc bằng thép, bản rộng mũi nhọn hơi cong có cán ngắn là đoản đao, có cán dài gọi là đại đao, dùng chém và để đâm. Dao cũng còn được gọi là long đao, trong bộ đồ tự khí ở miếu, đền làng Việt, bộứ lỗ bộ gồm 10 thứ vũ khí đời cổ thì long đao là thứ binh khí quan trọng, không thể thiếu.
Đình thôn Phù Lập, xã Tam Phúc huyện Vĩnh Tường thờ bà ả Lã Nương Đề, tướng của Hai Bà Trưng (40-42CN), sau lễ tế có hội múa đao, nam và nữ đều được tham dự.
Ngày nay, hội lễ này vẫn tổ chức thường năm.
Các ngày thi đấu có gậy múa đao các làng xã trong tỉnh:
Tháng Giêng:
Ngày mùng 3: Múa gậy múa đao ở làng Phù Lập xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường.
Ngày mùng 4: Múa gậy - Hai làng Bích Đại, Đồng Vệ xã Đại Đồng, huyện Vĩnh Tường.
Ngày mùng 4 - mùng 6: Hội đánh gậy 3 làng Canh thị trấn huyện Bình Xuyên.
Ngày mùng 4 - mùng 10: Hội đấu gậy hai làng Phù Chính, Tuân Lộ xã Tuân Chính huyện Vĩnh Tường.
Ngày mùng 6: Múa gậy, múa long đao hội làng Văn Trưng xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường.
Ngày mùng 7: Hội múa gậy làng Đôn Hậu, phường Khai Quang, thị xã Vĩnh Yên.
Ngày mùng 10: Hội đấu gậy làng Yên Lỗ, xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên.
Ngày 12: Hội múa thiết lĩnh làng Yên Lập, xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường.
Tháng 8:
Ngày 15: Hội đấu gậy làng Nhật Chiêu xã Liên Châu, huyện Yên Lạc.
Tháng 10:
Ngày 17: Hội đấu gậy làng Bàn Mạch, xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường.
Tháng Chạp:
Ngày 28: Hội đấu gậy làng Yên Thư, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc.
Ngày 30: Hội đấu gậy tại hai làng Vân Giang - làng Đọ xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường.

L.K.T (Lễ Hội Vĩnh Phúc)

 

Các tin đã đưa ngày: