HỘI THI NẤU CƠM

30/07/2013

Cơm là thức ăn từ gạo nấu với lượng nước vừa đủ để khi chín hạt gạo nở ra, mềm, dẻo và không ướt. Dùng nhiệt lượng (lửa) vừa đủ thì cơm không có hiện tượng khê và khét, ấy là cơm nấu khéo.
Nấu cơm vì “sự thần”
Có 2 loại cơm là cơm tẻ (nấu bằng gạo tẻ) và cơm nếp (nấu bằng gạo nếp). Trong đó, cơm tẻ là thức ăn chính dùng bữa của mọi người có từ thời Việt cổ, khi cây lúa tẻ được phát hiện và cấy trồng ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, mà đồng bằng tỉnh Vĩnh Phúc toạ lạc ở đỉnh của châu thổ ấy.
Huyền thoại thời Hùng Vương ghi nhận: Vào thời Hùng Vương thứ XII (Hùng Vũ Vương), con trai trưởng nhà vua đi chu du các miền trong nước, đến làng Bến xã Thượng Đạt, nay thuộc xã Liên Hoà huyện Lập Thạch, được nhân dân đón chào và dâng cơm tẻ cho ăn.
Các đời sau, nhân ngày ấy vào mùng 7 tháng Giêng, hàng năm tổ chức thi nấu cơm, lấy cơm tế thần.
Tương tự như vậy, nhiều làng xã tỉnh Vĩnh Phúc có mở hội thi nấu cơm.
Thống kê trong tháng Giêng đầu năm, có các làng sau:
- Ngày 4: Làng Phàn Thạch, xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương ở miếu Cầu Cô.
- Ngày 5: Làng Yên Hạ, xã Phương Lâu, huyện Tam Dương ở đình Ngọc Thạch.
- Ngày 6: Làng Văn Trưng, xã Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường ở chợ Rưng.
- Ngày 7: Làng Yên Thư, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc ở đình.
- Ngày 8: Làng Phú Hậu, xã Sơn Đông, huyện Lập thạch ở đình.
- Ngày 9 - 10 : Làng Phú Mĩ, xã Tự Lập, huyện Mê Linh ở đình.
- Ngày 11: Làng Phàn Thạch, xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên ở đình.
Cũng là mở hội nấu cơm thi (hay thi nấu cơm cũng thế), nhưng tập tục mỗi làng một khác (bản sắc riêng) nên cách tổ chức hội thi, và thể thức thi cũng khác nhau.
Có 3 thời điểm thi nấu cơm trong ngày lễ hội:
* Nấu cơm để chọn nồi cơm dâng lễ kính thánh, đó là ý nghĩa của việc “sự thần”, thuộc phạm trù nghi lễ, nên thường mở ra trước lễ tế. (cơm là lễ vật dâng tế).
* Nấu cơm là mở hội thi khéo, đua tài trong công việc bếp núc của các thôn nữ làng quê nên ý nghĩa chỉ dừng lại ở ngữ nghĩa “thi nấu cơm”. Nấu cơm sau lễ tế thánh, xếp vào mục hội làng.
* Nấu cơm để “vào làng”, gọi là cơm kéo bàn, điển hình là 5 làng xã Tích Sơn.
Các cơ sở vật chất dùng trong hội thi nấu cơm gồm:
Bếp nấu có các loại sau:
- Bếp là 3 ông đầu rau nặn bằng đất sét, xếp thành hình 3 góc, có 3 đầu chụm vào nhau để đặt nồi, người ngồi để nấu cơm.
- Bếp là 3 cây cọc bằng gốc tre tươi, dài khoảng 1 mét, một đầu nhọn đóng xuống đất, cũng 3 đầu chụm vào nhau để đặt nồi. Loại bếp này nấu cơm phải đứng. Như loại bếp làng Phàn Thạch xã Đồng Tĩnh.
- Bếp là cây cọc ngắn, khoảng 40 cm đóng trên chiếu hoa xuống đất. Nấu cơm được ngồi trên chiếu hoa. Mỗi bếp một chiếu như làng Bến xã Liên Hoà.
Các loại bếp này cố định trong khi nấu cơm, là loại hình bếp “tĩnh”.
- Bếp là một chiếc quang sắt, luồn vào một chiếc đòn ngang ở thể đong đưa theo chiều ngọn lửa. Nay còn thấy ở hội làng Phú Hậu xã Sơn Đông.
- Bếp là một đầu dây buộc vào một chiếc cần tre đeo ở lưng người làm bếp, một đầu cần để vắt vẻo tự do. Khi nấu, người cầm lửa, người nấu cơm đều phải theo sau người đeo bếp, theo lối nấu “tự hành” (vừa đi vừa nấu).
Các làng có lối thi nấu cơm theo thể thức ấy, điển hình là: Làng Văn Trưng, xã Tứ Trưng, làng Phú Mĩ, xã Tự Lập. Thời gian hạn định là sau một hồi trống, nồi cơm phải chín.
Làng He phường Phúc Thắng lại có lối buộc bếp quang vào đầu đòn gánh, vừa gánh đi vừa nấu.
Cách nấu này, mỗi bếp có 4 người:
Một người gánh bếp
Một người định vị nồi cơm trên ngọn lửa
Một người điều hành ngọn lửa
Một người nấu cơm.
Các cách thức nấu cơm như thế chỉ là trình diễn thi khéo thi tài, ở trong làng xã mà thôi, đó là trò diễn trong ngày hội làng mà không phải việc “sự thần”.
Củi lửa:
Nấu cơm không thể không dùng củi. Thường thì dùng bằng củi tre, hoặc nứa, chẻ nhỏ hoặc để rời dưới đất, hoặc bó thành bó dài nấu các bếp trên cao, hoặc nấu theo các bếp “tự hành”. Không dùng củi gỗ khó cháy, vì nấu cơm thi thường hạn định thời gian, hoặc là nồi cơm nào chín nhanh nhất thì thắng cuộc.
Còn có trường hợp kể rằng củi đun là một bó mía tươi. Người ta vẽ một cái vòng tròn bằng vôi to khoảng bằng cái nong lớn (đường kính khoảng 3 mét), trong ấy đóng cọc bếp, đặt sẵn nồi, cọc kéo lửa và nắm bùi nhùi, gạo, nước và vài cây mía. Lại có một con cóc lớn nữa. Người vào nấu cơm thi ngồi trong vòng tròn, tự kéo lấy lửa, tự ăn mía lấy bã mía làm củi đun, vừa nấu cơm lại vừa phải trông nom con cóc, nếu để con cóc nhảy ra ngoài vạch vôi là thua cuộc. Nếu ai nấu cơm chín trước lại dẻo, thơm và ngon là giành giải nhất.
Chuyện xưa như thế để chỉ các cô gái thi khéo, thi tài trong ngày hội xuân.
Nấu cơm chín phải có lửa tuy nhiên để có lửa người nấu phải tự tạo lấy.
Làng Bến xã Liên Hoà có bộ kéo lửa 3 chiếc chuyên đề dùng cho các kì thi nấu cơm dâng thánh. Dùng xong 1 lần trong ngày hội đem cất trong đình như đồ tự khí.
Làng Văn Trưng xã Tứ Trưng lại phải bơi thuyền sang bờ đầm Rưng bên kia để lấy lửa về nấu ở chợ Rưng. Cảnh tấp nập ngày hội có trò diễn thi nấu cơm được diễn tả:
ầm ầm trống đánh giục đi (giục đi vì là bếp “tự hành”)
Lúa xay, lợn thả, cơm thi ầm ầm
Người sang lấy lửa bên đầm
Người thì đánh cá, người đâm bánh dầy
Người thì cầm đuốc cơm thi
Trống giục 3 hồi thì tiến lễ lên.
Cầm đuốc đi theo kiểu bếp “tự hành”
Sau 3 hồi trống thì cơm phải chín, để dâng lên dự chấm giải.
Nồi nấu cơm:
Nồi nấu bằng đất: Nồi đất, vung đất. Tỉnh Vĩnh Phúc có 2 làng làm nghề chế tác nồi đất nổi tiếng:
Làng Hiển Lễ xã Cao Minh thị xã Phúc Yên từ thời Hùng Vương (Gốm Đông Sơn).
Làng Khai Quang thị xã Vĩnh Yên, “có nghề làm nồi và chợ Đình ấm bán nồi đất”.(1)
Các làng xã có hội thi nấu cơm đều dùng nồi ở đây, bán khắp các chợ làng xưa ở Vĩnh Phúc. Riêng làng Hương Canh, nấu cơm thi bằng nồi đồng điếu, là một cuộc thi dân sự.
Gạo nấu cơm:
Dùng gạo tẻ, tuy nhiên, gạo không có sẵn.
Muốn có gạo thì ngay trong hội thi, người nấu cơm phải tự làm gạo từ thóc. Thường là 2kg thóc tốt cho mỗi bếp dự thi. Làng có bao nhiêu giáp thì mỗi giáp cử một số nam thanh, nữ tú tổ chức thành đội, mang theo các thứ đồ như: chày giã, cối giã, nia, giần để làm gạo. Gạo trắng thì cơm dẻo, nên tuy công việc thi đua trong điều kiện vội vàng ngày hội, nhưng hạt gạo vẫn được gia công đến trắng xanh và chọn lọc rất đều, kỹ.
Nước nấu cơm:
Nước cũng phải tự lo, thường mỗi làng chọn lọc một cái giếõng, hoặc bến sông làm chỗ lấy nước nấu cơm thi. Chỗ ấy trong ngày hội làng thường có cắm một cái lọng hoặc một lá cờ hội để giành riêng. Đường đi lấy nước cũng đánh dấu, cắm cờ.
Người dự thi phải theo hiệu lệnh chạy tới nơi lấy nước, sách tay mang về. Thường là xa tới vài trăm đến 1000m.
Xưa thường dùng cái lọ, hoặc cái ấm đất nung, nay có loại can nhựa tiện lợi hơn. Nấu cơm dâng lễ thánh như làng Bến thì cái lọ cũng được dùng riêng như đồ tự khí.
Địa điểm tổ chức thi đều là ở sân các đình làng với các bếp cố định. Các bếp kiểu “tự hành” vừa đi vừa nấu tổ chức trên đường trước đình như làng Phú Mĩ, làng Văn Trưng, hay làng He phường Phúc Thắng.
Tuy không phải là việc “sự thần”, nhưng vì có liên quan đến ngôi đình và ngày tiệc lệ thánh thần nên trước khi vào thi, các giáp đều vào làm lễ thánh với ý nguyện cầu tốt lành.
Chấm giải:
Cuộc thi nào thì cuối cùng cũng có người nhất, và có giải nhất.
Làng Bến chỉ tổ chức 3 nồi cơm thi vì làng thờ 3 vị thần, có một vị Thánh Cả. Nồi cơm nhất được dâng cúng đức Thánh Cả, ấy là giải phúc lộc cho cả năm đáng giá nhất.
Phương thức chấm là công khai trước bàn dân hội làng. Đã thi lấy giải thì tất có thưởng. Thưởng ở hội làng đa phần không to nhưng rất quý giá. Vì đó là vinh dự đầu xuân “thiên thủ”, mang lại may mắn cho cả năm.
Nấu cơm tiệc ở đình Cả Tích Sơn:
Hội làng này có tổ chức nấu cơm. Nhưng lại không phải là thi nấu cơm hoặc nấu cơm thi. Cơm ở xã Tích Sơn gọi là “Cơm tiệc”
Lệ nấu cơm: Tổ chức nấu ở trước cửa ngôi đình Cả Tích Sơn. Nấu chín, xếp hàng ngang 3 nồi một hàng, gọi là “Bàn” theo thứ tự mỗi bàn: Trưởng - thứ - út (1-2-3). Tích Sơn có 5 làng, nhưng việc ở đình chung chỉ chia ra làm 2 giáp, gọi là giáp Đông và giáp Tây, với quy chế tổ chức các bàn theo quân thứ chỗ ngồi trong đình.
Trong tiệc chỉ tổ chức nấu cơm từ bàn thứ 13 (bàn giai dân) trở xuống đến bàn cuối.
Tiêu chuẩn nồi cơm tiệc:
- Nấu bằng nồi đất mới, vung mới. Lượng chứa khoảng 2, 5kg ngày nay(xưa gọi là 1 đấu) nấu phải khéo.
- Khi chín, cơm phải đạt đầy lùm lùm trên miệng nồi.
- Nấu bằng gạo tẻ giã trắng tinh (gạo được xay giã riêng, khi giã, trộn lá tre, lá duối để giã cho nõn nà).
- Khi cơm đã chín tới, mở vung, lấy lá mít xanh, sạch, miết vào miệng cơm cho mịn, cho chặt như cơm được nắm.
- Lấy lá mít đánh sạch vung, vỏ ngoài của nồi khi nấu đã bị bụi bẩn.
- Đề tên người có nồi cơm lên vung. Xếp theo thứ tự 3 nồi (thay 3 người) vào một bàn theo tuổi sinh.
- Dùng nồi cơm chuyển dịch lên theo bàn ở 2 dõng - 2 giáp.
- Những nồi cơm bàn trên cùng (2 dõng - 6 nồi) được chọn vào “chạy cỗ” dâng cúng thánh.
- Khi “tán cỗ” (sắp cỗ lên mâm), các nồi cơm được cắt ra “quân huệ” (chia cùng hưởng lộc).
Nấu cơm dự thi làng Hương Canh:
Làng Hương Canh thuộc xã Tam Canh, nay là thị trấn huyện Bình xuyên. Làng chia thành 7 giáp, nhưng lại đặt gọi là “cơ” -vốn có xuất xứ là một đơn vị quân đội địa phương thời phong kiến, số quân không cố định. (có khi mười người, có khi đến ba bốn trăm người). Tên của 7 cơ là:
- Cơ Treo chùa. Còn gọi là cơ Vam
- Cơ ngói Hạ. Còn gọi là cơ Trong
- Cơ Đông Mướp. Còn gọi là cơ Nội
- Cơ trong Vam. Còn gọi là cơ Chuôi
- Cơ Lang Gợ. Còn gọi là cơ Mướp
- Cơ Nội Giữa. Còn gọi là cơ Hạ
- Cơ Chuôi Chòm. Còn gọi là cơ Chùa.
Ngày tiệc lệ 15 tháng 7 hàng năm, mỗi giáp nấu 16 nồi cơm bằng gạo Ré Cánh, là gạo Ré đặc sản của làng Hương Canh.
Gạo nấu cơm:
Dùng khoảng 6kg thóc Ré Cánh, là thứ lúa mùa hạt nhỏ, ngon cơm, đặc sản của làng Hương Canh có mùi thơm nức. Xay giã sạch bóng, chỉ chọn lấy một đấu gạo (tương đương 2,5kg).
Nước nấu cơm:
Dùng nước mưa hứng giữa trời, rồi lại lọc kĩ, thật trong vắt.
Cách thức nấu:
Nấu cơm ở gia đình của người được hàng cơ, hành giáp bầu chọn.
Cơm nấu khi chín tới, có độ nở vừa đầy cổ nồi, nếu đầy và vơi quá cổ nồi đều không hợp cách. Cơm nấu phải thật rẻo, trắng và thơm.
Khi vào thi, cơm được đơm ra bát, dùng chiếc đũa cả (còn gọi là đũa cái) đè lên mà nén. Các hạt cơm kết dính chặt vào nhau. Nén xong, úp bát xuống mâm, cơm róc tuột ra khỏi bát mịn như được đóng khuôn. Đạt được như vậy, gọi là “cơm in”. Rồi cắt ra thành từng miếng như miếng cơm nắm, dẻo và thơm phức.
Cách thức chấm thi:
Buổi chiều ngày hội 15 tháng 7, cả 16 nồi cơm được đem đến nhà trưởng giáp (hay cơ trưởng). Đến đây các nồi đều được niêm phong bịt kín cả vung. Trên vung ghi rõ cả tên giáp và tên hộ nấu cơm.
Các nồi thổi cơm được đem bình chấm công khai trước bàn dân.
Thành phần ban chấm giải có 8 người: gồm 7 bô lão do 7 giáp cử ra. Làng cử thêm ra một vị bô lão đứng đầu ban, điều khiển công việc chấm giải, gọi là ông chùm nước.
Địa điểm chấm giải:
Đặt tại tam quan chùa Kính Phúc, gọi là Tự môn sở (Sở cửa chùa), công sở của ba làng Canh.
Tiêu chuẩn chấm giải:
Nồi cơm vừa khéo, không vơi, không đầy. Tất cả các vùng trên, dưới, xung quanh nồi đều dẻo và khô ráo. Không có cháy, lượt cơm đáy nồi không khô cứng, xung quanh nồi không có cơm ướt.
Giải thưởng: có 3 giải
Giải nhất: 1 chiếc thăn lợn nặng 8 lạng, 1 cái lăm lợn (khoanh thịt cắt ra ở cổ lợn đã cạo sạch lông, moi lòng) nặng 3 lạng rưỡi. 1 chiếc chân giò nặng cân rưỡi.
- Giải nhì: 5 lạng thịt ngon, 1 chiếc chân giò nặng 1 cân.
- Giải ba: 3 lạng thịt ngon.
Tán cỗ cơm:
Các nồi cơm được giải đều được cắt ra thành miếng, chia đến từng gia đình, gọi là phần làng.
Các nồi cơm không trúng giải được ăn tại đình, gọi là tiệc làng.
Như vậy, cuộc thi nấu cơm làng Hương Canh chỉ là cuộc thi khéo, tổ chức nhân ngày có hội làng, mà không phải là Hội thi như các làng khác.

Các tin đã đưa ngày: