THẦN NÔNG VÀ THẦN NÚI

30/07/2013

Hoàng hậu Ngọc Tiêu mấy ngày bận rộn đã bắt đầu thấm mệt. Riêng việc chọn mười lăm cum lúa nếp cái hoa vàng, mười lăm cum lúa dé thơm để vua ban cho Lạc tướng đem về làm giống, nàng và các xảo xứng phải vất vả mất hai ngày. Lại còn xoáy một trăm chiếc bánh dày, một trăm chiếc bánh chưng để vua bày tiệc, đun nấu suốt ngày đêm. Hôm qua nhà vua đi mở hội cấy từ sáng sớm, còn nàng cùng các xảo xứng đem bánh dày bánh chưng ra cung Tiên Cát bày cỗ yến. Tuy ngoài cung đã mổ sẵn lợn gà nhưng còn phải nấu nướng, biết bao nhiêu việc. Mà nhà vua thì muốn thật chu đáo để tỏ ra kính trọng Lạc hầu Lạc tướng. Ngài thường bảo nàng:
- "Ta là vua quyền vị trên, họ phải tuân theo. Họ đã giúp Tiên vương công cao đức trọng, tuổi tác đã nhiều. Nếu ta sơ xuất để họ giận không chịu giúp sức, việc nước thiếu kẻ đỡ đần thì dù ta có ngày đêm vất vả chăng nữa cũng khó mà thành công quả".
Nàng hiểu ý tứ thâm thuý trong đạo cư xử, mà phận của nàng là phải gánh vác một phần. Vì vậy, nàng cố đem hết sức mình để làm cho công việc tiếp đãi công thần được chu đáo. Mọi việc xong xuôi trôi chảy, nàng mừng rỡ chờ đợi sự khen ngợi của chồng. Nàng cho phép các xảo xứng nghỉ ngơi hai ngày. Họ có thể ở nhà hay đi chơi tuỳ thích nhưng cấm nô đùa ầm ĩ. Nàng đang cần sự yên tĩnh để trút bỏ cơn mệt mỏi và lấy lại sự thư thái trong đầu óc. Cùng với sự mệt nhọc do làm lụng là những chuyển biến trong người như các bà mẹ từng trải vẫn bảo là thai nghén, khiến cho nàng có tâm trạng muốn được tĩnh dưỡng ở một căn phòng vắng vẻ. Bởi vậy nàng dự định chọn giờ phút hân hoan sắp tới để thổ lộ cho chồng biết niềm vui ấy và bàn với chàng sắp xếp lại công việc trong nhà. Nắng chiều vàng nhạt lọt qua cửa sổ làm nàng nao nao một cảm giác bâng khuâng khó tả.
Nàng ra cổng ngóng chồng về. Kìa, ngựa chàng đang bước lại gần, nhưng sao hôm nay nó đi chậm chạp. Chàng buông lỏng dây cương, lơ đãng, mệt mỏi như đang nghĩ một điều gì hệ trọng. Nàng chạy lại đỡ chồng xuống ngựa và gọi xảo xứng ra dắt vào tàu lấy thóc cho ăn. Nàng cùng chồng ngồi vào chiếc ghế dài dưới giàn Thiên lý. Chiếc ghế làm bằng tấm ván to mài nhẵn có tựa lưng. Trước mặt kê chiếc bàn uống trà. Hàng ngày Hoàng hậu đem hoa quả, bánh trái để đó cho nhà Vua vừa ăn vừa ngắm cảnh và nghe chim hót. Thấy hoạ mi về làm tổ, Vua sai xảo xứng treo trên cành cây cho chúng một giỏ thóc, ăn hết lại đổ đầy. Buổi chiều trước khi vào tổ, bao giờ chúng cũng hót đối đáp nhau rất vui tai. Biết mấy ngày nay nhà Vua mệt nhọc, Hoàng hậu vắt hai quả cam to chín đỏ lấy đầy cốc nước, hai tay đưa mời chồng.
Đợi chồng uống xong, nàng hỏi:
- Thưa chàng, các Lạc hầu Lạc tướng (7) ra về có vui vẻ hay không?
- Vui lắm chứ. Ai cũng nhận lời sẽ thay đổi cách làm lúa cũ. Họ cảm ơn Vua và Hoàng hậu cho ăn tiệc ngon lại cho cả lúa giống mang về.
- Công việc tốt như thế sao chàng lại có vẻ buồn?
- à ta suy nghĩ về vụ xử vị Lạc hầu sáng nay.
Hoàng hậu có vẻ hốt hoảng hỏi:
- Vị Lạc hầu đó mắc tội ra sao thưa chàng?
- Người ấy bỏ không đến hội cấy bị ta phạt.
- Thưa chàng, ông ấy phải chịu hình phạt ra sao?
- Theo phép nước thì phải cắt bớt bổng lộc, nhưng nghĩ ông ta là bậc công thần, tuổi tác đã cao nên ta miễn cho. Còn chức tước thì bắt giao lại cho con trai cả.
Hoàng hậu cười chảy nước mắt:
- ôi thế mà chàng nói là xử phạt, em tưởng ghê gớm lắm. ông ta được nghỉ và hưởng lộc nước. Con ông ta được nối chức của cha. Thế là phúc lộc vẹn toàn chứ đâu phải là xử phạt?
- ấy thế mà ta nghĩ mãi mới ra cách xử đấy. Tục ngữ có câu "Tre già măng mọc", nhưng có ai xin nghỉ cho con ra thay đâu. Các Tiên vương nể trọng công thần không nỡ giục giã, thành ra có thể nhiều người vô dụng cứ phải đợi họ chết mới đem chức đó phong cho con họ hoặc cho người khác được.
Hoàng hậu vừa pha trà vừa hỏi tiếp:
- Vị Lạc hầu này bao nhiêu tuổi thưa chàng?
- Sáu mươi tuổi.
- Sáu mươi tuổi thì chưa phải là già nua. Em cho rằng người làm quan vào tuổi đó đầu óc mới tới độ thâm trầm đầy đủ. Có phải phát nương bổ củi đâu mà cần trẻ khoẻ, thưa chàng?
Lang Liêu thấy vợ có chút hiểu đời, bèn nói:
- Người làm quan tuổi tác cao thấp không can hệ. Tuổi tác cao mà sáng suốt còn hơn tuổi trẻ ngu tối. ông này mới tuổi sáu mươi nhưng tỏ ra lười biếng lắm rồi. ông ta không biết việc quan là những gì nên đã nói: "Việc trồng trọt ruộng đồng là của Lạc dân chứ không phải là việc của Vua quan". Ta đang nghĩ cách loại bớt những người không có tài làm quan ra khỏi triều đình và các bộ, lựa chọn người giỏi giang cần mẫn trong vương hầu và cả ngoài dân gian nữa để dùng. Phải làm cho nghề nông phát tích rộng rãi. Sẵn thóc ăn rồi mới yên chí đốc thúc các nghề khác phát đạt theo.
Hoàng hậu thấy chồng dốc lòng lo việc nước, khen rằng:
- Chàng trải qua nhiều gian nan suy nghĩ nên thấu hiểu đạo làm vua. Câu nói của chàng "Vua lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm gốc", càng nghĩ càng thấy phải. Thóc gạo nhiều thì dân no ấm. Dân no ấm thì nước yên hàn. Nước yên hàn thì phong tục đạo đức mới nảy nở. Phong tục đạo đức nảy nở thì người trong nước mới thương yêu quý trọng nhau, cùng nhau giữ nước.
Lang Liêu sung sướng nắm chặt tay vợ. Chàng nắm phải chiếc vòng ngọc bích vật cũ giao duyên, lại càng đằm thắm. Nàng khẽ gỡ tay chồng ra, giọng hổn hển: "Thiếp chỉ ao ước bầu trời luôn luôn yên tĩnh, xung quanh không có bóng người và nắng chiều đừng bao giờ tắt. Rồi chàng sẽ còn thấy thiếp lạ lùng hơn thế nữa kia. Là vì thiếp đã hết thời son rỗi".
Từ hôm biết vợ mang thai, Lang Liêu bắt đầu chú ý tới nàng hơn. Chàng nhận thấy mỗi lần bước lên cầu thang hơi thở của nàng thêm gấp gáp. Cùng với sự đẫy đà về cơ thể là sự khó nhọc khi cử động, gương mặt trắng càng nổi gân xanh. Hoàng hậu tỏ ra không muốn tiếp khách nhiều, đã sai gia nhân treo cành lá vuông ở cổng cung lầu báo cho người lạ đừng vào. Lúc khoan khoái trong mình, nàng lại ngồi quay tơ dệt vải, khâu sẵn áo quần tã lót. Thú vui duy nhất của nàng là buổi chiều tà ngồi trò truyện với chồng ở bàn uống trà giữa vườn, nghe chim hoạ mi hót trước khi vào tổ. Hiểu được sở thích đó của vợ, sau buổi tan chầu, Lang Liêu lên ngựa về ngay không rẽ ngang rẽ dọc, dù là ruộng lúa đang xanh, là việc đúc đồng đang thay khuôn mới. Công việc đó chàng giao phó và dặn dò tỷ mỷ hai vị Lạc hầu, một coi về cấy lúa trồng dâu, một coi về luyện đồng rèn sắt.
Nàng cũng âu yếm chồng hơn, thường bày sẵn hoa quả tươi ngon, pha trà ngồi đợi. Chiều nay nàng báo cho chồng một tin vui nữa:
- Chúng mình sẽ đẻ con trai.
- Làm sao nàng biết được?
- Các bà mẹ đã đẻ nhiều lần bảo thế. Là vì thai to và nằm bên phải.
Hùng Chiêu Vương sung sướng reo lên:
- Nếu vậy thì phong ngay làm thái tử, sau này cho nối ngôi, ta nghĩ sẵn hiệu là Hùng Vi Vương (8).
Hoàng hậu trong lòng mừng rỡ, bề ngoài vẫn tỏ ra cẩn thận nói:
- Nhưng các nàng vợ khác của chàng đẻ được con tài đức hơn thì sao?
- Ta cho rằng Vi Vương là khá nhất, vì nó sinh vào lúc chúng ta gánh vác công việc nặng nề, lo sâu, nghĩ xa, thông minh sáng láng nhất trong đời.
Hoàng hậu mỉm cười e ấp:
- Đôi khi thiếp cũng nghĩ như vậy đấy. Con chúng ta rồi cũng có tài đánh giặc và ham nghề làm ruộng cho mà xem, "giỏ nhà ai quai nhà ấy".
Nhắc đến chuyện dòng dõi, Lang Liêu chợt nhớ giấc mơ kỳ lạ vẫn canh cánh trong lòng. Chàng bèn kể lại cho vợ nghe:
- Tháng trước, ta nằm chiêm bao thấy ta đi săn bên sườn núi Tam Đảo quê nhà, gặp một đàn hổ nhỏ lao nhao tranh nhau mô đá bên bờ suối. Chúng vươn cổ xuống dòng nước mát uống lấy uống để như khát từ bao giờ. Ta rút một mũi tên đồng đặt vào nỏ sắp bắn, thì bỗng xuất hiện một cô gái khoác áo lông chim đỏ cưỡi trên lưng con hổ mẹ lao tới quát to: "hãy khoan". Ngựa của ta sợ con hổ lớn toan chạy trốn, thì người con gái đã lại thình lình đứng trước đầu ngựa. Vuốt ve đôi mắt, đôi tai làm cho con ngựa hết sợ, rồi cô đến ôm chân ta, ngẩng mặt nói cầu khẩn: "Xin tha cho bọn quân lính của tôi, sau này tôi sẽ đền ơn". Ta trông mặt cô gái ấy thấy rất giống nàng, cổ cũng có tràng hoa. Trở về nhà gặp ngay mẹ ta ở trên trời bay xuống thăm ta. Ta bèn thuật lại chuyện đi săn cho mẹ ta nghe - Mẹ ta mỉm cười bảo ta hãy lặng yên để bà kể đầu đuôi chuyện ấy. Ta vâng lời chăm chú lắng nghe và nhớ được như sau:
Thuỷ tổ họ Hùng ta là cháu bốn đời của Đức Viêm Thượng Đế cho Tổ giáng sinh xuống cõi Lạc Việt làm vua mở mang nghề trồng lúa nước. Vì vậy mẹ ta là cháu dâu Ngài. Ngài thấy mẹ ta bất hạnh mà chết, nên mới xin với Ngọc Hoàng cho được lên trời xum họp với dòng họ Thần Nông. Mẹ ta vốn là người thợ dệt lụa rất khéo tay, đã dệt hộ bà Tiên quản bầy một tấm áo, được nghe bà kể chuyện. Nhờ vậy mẹ ta biết được lai lịch của nàng. Nàng vốn là con gái thần Võ Nghệ. Một lần nàng tập ném, mải mê ném rơi mất mấy vì sao. Cha nàng phải đưa vào làm tiên nữ chăm sóc vườn đào để chuộc tội. Theo thứ tự của bầy tiên, nàng là thứ bảy. Nhân buổi trưa hè, Ngọc Hoàng và các cận thần ra rặng cổ thụ ở cổng Trời hóng mát. Ngài trông xuống hạ giới thấy ta một mình đang cặm cụi cho giống lúa trên cánh đồng, bèn ban lời khen ngợi. Đức Viêm Đế Thần Nông đứng hầu bên cạnh tâu rằng: "Đứa trẻ ấy tên là Lang Liêu, cháu mười đời của thần, rất ham mê nghề làm ruộng". Ngọc Hoàng rất đẹp lòng, muốn trọng thưởng cho ta, mới sai gọi cả bầy tiên lại hỏi: "có ai mến cảnh hạ giới, muốn được hưởng vui thú lứa đôi thì cho xuống cõi trần làm vợ Hoàng tử Lang Liêu". Cả bầy tiên quỳ xuống xin Ngọc Hoàng đừng bắt họ phải rời cảnh bồng lai, riêng một mình nàng đứng tần ngần không nói. Ngọc Hoàng cho ra về tất cả, thần Lương Duyên ở lại. Ngọc Hoàng phán: "Ta chiếu truyền cho các ngươi bàn mưu xếp đặt cho Lang Liêu làm vua nối nghiệp và gả cho nàng tiên thứ bảy, thực đúng là duyên kỳ ngộ, định sẵn bởi ý trời". Bà Tiên quản bầy và thần Lương Duyên cùng khen là hai người rất vừa đôi phải lứa. Ngọc Hoàng phán tiếp: "Đã thế thì cho ở luôn hạ giới, chồng làm Thần nông, vợ làm Thần núi, phù trì nâng đỡ cho giống người Lạc Việt được sống bình yên, có cơm ăn áo mặc". Nhận chiếu chỉ của Ngọc Hoàng, các vị thần đáp mây lành xuống hạ giới xem xét, cho gọi tất cả sơn thần, thổ địa đến đỉnh núi Tam Đảo nói rõ ý chỉ của Ngọc Hoàng. Thổ địa động Suối Trại bẩm rằng: "ở động có gia đình họ Lăng ăn ở phúc đức mà tuổi cao rồi còn đang cầu tự, vẫn định tâu xin Ngọc Hoàng giáng phúc cho nhà đó". Theo lời thỉnh cầu của thổ địa, các Thần bàn nhau đưa bầy tiên xuống chơi cảnh Tây Thiên cho nàng quen dần hạ giới. Khi nàng đã vui lòng ở hẳn trần gian, các vị Thần mới làm phép cho đầu thai vào cửa họ Lăng. Mẹ ta còn nói, nàng có nhiều cuộc đời khác nữa trong hội quần tiên, mà mẹ ta cũng chưa biết hết.
Tỉnh dậy ta bâng khuâng mất mấy ngày. Cứ theo như câu chuyện mộng triệu này thì ra Ta là dòng dõi Viêm Đế Thần Nông, tổ tiên đã chuyển kiếp xuống làm người hạ giới, còn nàng tiền kiếp là tiên trên trời, hậu kiếp là nữ thần núi Tam Đảo. Hay nàng là thần nữ ấy còn ở dương gian với Ta vì chút lương duyên. Ta thấy nàng có nhiều cái khác thường nên cũng nghi nghi.
Ngọc Tiêu mỉm cười, hai tay nâng chén trà mời chồng, rồi nàng ngồi xích lại gần hơn, đáp:
- Em làm sao mà là thần núi Tam Đảo được. Cha mẹ đẻ ra như mọi đứa trẻ trong làng, lớn lên hái củi chăn trâu, gặp buổi nước nhà có giặc, làm việc nghĩa, biết chàng ở chốn trận tiền. Em tốt số được làm vợ chàng thì phải lo nỗi lo cùng chàng, phải gắng gỏi sao cho xứng đáng khi ở trên dân chúng. Chàng đừng tin mộng mị. Có lẽ vì chàng thấy em khác thường, ngẫm nghĩ nhiều mà thành mộng mị đó thôi.
Nghe lời lẽ của vợ, Lang Liêu lại thấy rõ thêm sự hiểu biết của nàng.Chàng nói vui:
- Dù sao câu chuyện vừa qua cũng phải đem kể cho bên quê ngoại nghe. Biết đâu sau này ở đó lại chẳng tin nàng là thần núi, tôn là Tây Thiên quốc mẫu, lập miếu thờ bốn mùa cúng tế (9).
Hai vợ chồng cười vang rung hinh giàn Thiên lý.
Sau trận cười vui, Hoàng hậu lấy lại giọng từ tốn đáp:
- Chuyện thần núi chàng nói chẳng qua là một giấc mơ chóng quên. Còn việc làm của chàng ích lợi cho dân lớn lao nhường ấy thì chẳng bao giờ quên được. Em tin rằng sau vài vụ thấy lúa cấy bội thu, dân ta sẽ nô nức làm theo. Bao nhiêu cánh đồng ngâm nước quanh năm đều trở thành ruộng cấy. Nhờ đó mà thóc ăn sung túc no nê. Biết đâu giấc mộng chàng vừa kể chả làm cho dân Lạc Việt ta tin rằng, Nhà Hùng là dòng dõi họ Thần Nông trên thượng giới, được Trời sai xuống dạy dân nghề làm ruộng. Rồi người dân cũng sẽ thờ chàng làm vị Thần Nông, hàng năm mở hội xuống đồng cầu cúng hết sức vui vẻ. Họ sẽ truyền tụng đến ngàn đời sau sự tích xứ Đồng Lú Vua Hùng dạy dân cấy lúa, và lập đàn thờ ghi lại dấu thiêng, ngay tại chỗ chàng vẫn ngồi nghỉ trưa dưới gốc đa ăn cơm nắm buổi thì. Đàn ấy đời sau tất gọi là Đàn Thần Nông Thị (10).

Các tin đã đưa ngày: