Hoàng phi Lăng Thị Tiêu và Vua Hùng thứ 7

30/07/2013

Tước vị hoàng gia.
Sau ba năm hết tang mẹ, Lang Liêu được vua cha cho đem kiệu hoa sang Trang Đông Lộ đón cô gái Nàng Tiêu làm vợ. Chức Lạc hầu chuyên lo công việc cưới vợ gả chồng cho các Quan lang, Mị nương đã xếp đặt đâu vào đấy. ông cho cất một trăm thưng gạo nếp cái, mổ mười con trâu, đồ một trăm thưng gạo nếp xôi, nấu bốn mươi thúng cơm gạo dé thơm để bày tiệc cưới. Lại truyền lệnh cho Lạc dân trong kinh đô quét tước đường xá, treo đèn kết hoa trước nhà, mặc quần áo đẹp để nghênh đón. Trò mua vui thì có quân lính bơi chải ở ngã ba sông, nam thanh nữ tú các làng chạ múa hát xuân, hát trống quân, cò lả, hát ví, đánh đu, ném còn, làm trò bách nghệ khôi hài.
Việc thành thân đã xong, vua cho triệu các Lạc hầu, Lạc tướng đến bàn việc truyền ngôi cho Lang Liêu.
Các Lạc hầu, Lạc tướng sau khi nghe vua bày tỏ ý muốn truyền ngôi cho Lang Liêu và phân rõ phải trái thì đều bằng lòng và y lệnh nhà vua, sửa soạn lễ truyền ngôi.
Đúng vào ngày mồng 6 tháng Giêng, lễ truyền ngôi được cử hành, Hoàng tử Lang Liêu lên ngôi Vua. Đời Vua Hùng thứ 7, lấy niên hiệu là Hùng Chiêu Vương, Nàng Tiêu được lập là Chính Hoàng Phi.

Thuật trị nước
Ngay từ khi mới lên ngôi, Vua Hùng thứ 7 đã quan tâm tới việc nước, việc dân, mong cho dân có được cuộc sống ấm no. Ngài không xây cung lầu riêng mà vẫn ở ngôi nhà sàn cũ của mình, số xảo xứng hầu hạ vẫn có bấy nhiêu. Việc nấu nướng cho vua ăn đã có Hoàng hậu Ngọc Tiêu cáng đáng. Bữa ăn, Vua và Hoàng hậu ngồi cùng mâm y như vợ chồng nhà lạc dân. Cũng như Vua cha, Hùng Chiêu Vương sống rất kiêm ước, thường đi săn thú rừng, bắn chim rừng làm thức ăn, ít khi dùng đến vật nuôi. Song, Ngài lại ra lệnh cho đầu bếp ở các cung lầu không để thiếu cá thịt trong bữa ăn của Vua cha và các mẹ già, mẹ trẻ, mị nương, quan lang. Đầu bếp ở các quán doanh thường xuyên thay đổi món ăn cho binh sĩ.
Một hôm sau bữa cơm chiều, hai vợ chồng ngồi uống nước trà ngắm cảnh trong vườn, Lang Liêu nói với vợ rằng:
ông Vua của một nước phải "Lấy dân làm gốc, còn dân thì lấy ăm làm gốc". Sự ăn uống là gốc rễ của mọi sự. Muốn làm việc gì, trước tiên phải no bụng. Muốn cầu cúng hội hè trước tiên phải no cơm. Muốn giúp đỡ mọi người thì trước tiên mình phải no đủ đã. Thế thì việc nông ta là cần kíp nhất. Dân ta vốn sống bằng thóc gạo, nên ta muốn sao cho nghề trồng lúa ngày càng quy củ. Hiện nay, Lạc dân làm không theo ngày tháng, không biết chọn giống, chỉ đợi thu sang, nước các con sông cạn là đem thóc ra vãi lên phù sa, cỏ giả không nhổ được, lúa ít bông mà nhiều hạt lép. Lại còn nhiều thửa ruộng không có lối tháo cạn nước đành bỏ phí. Vậy nàng thử nhổ mấy nắm lúa non đem xuống cấy vào thửa ruộng nước xem sao. Nếu được thì ta cho cách làm ấy lợi lắm".
Ngọc Tiêu đang mong được dịp giúp chồng lo việc nước, nàng nhận lời ngay. Khu ruộng Hương Trầm vẫn là khu làm thử của vợ chồng Lang Liêu. Theo chỉ dẫn của chồng, nàng nhổ một bãi lúa gieo thẳng đã cao bằng gang tay, rồi đem xuống ruộng nước đã bừa ngẫu, cấy mỗi khóm ba bốn dảnh. Chừng nửa tháng sau hai vợ trồng ra thăm ruộng. Họ vui mừng khôn xiết, những khóm lúa chẳng những sống mà còn xanh tốt hơn nhiều so với đám lúa còn lại ở ruộng như cũ. Họ lội ào xuống vơ sạch cỏ. Nửa tháng sau họ lại ra thăm thì thấy lúa được làm cỏ sục bùn rất chóng tốt. Lang Liêu phấp phỏng chờ ngày cây lúa ra bông. Biết đâu chỉ tốt cây mà bông thì kém. Người làm ruộng chỉ cần thu lấy hạt thóc mang về "Ba tháng trông cây một ngày trông quả" là như thế.
Thấm thoắt, ngày mùa đã đến, cảnh đồng áng càng làm Lang Liêu càng thấm thía điều suy nghĩ "Dân lấy ăm làm gốc". Tan chầu là chàng cùng vợ ra thăm ruộng ngay. Lúa của chàng chưa chín nhưng rõ ràng bông hạt đẫy đà, tốt hơn gấp bội ruộng của Lạc dân. Chàng chợt hiểu ra và nói với vợ vì sao lúa của nhà chậm chín: "là bởi được đủ nước, được làm cỏ, được cắm sâu, rễ hút nhiều chất nên cây lúa to mập trẻ lâu". Chàng còn đoán rằng hạt gạo của ruộng này còn dẻo ngon hơn, nhưng còn đợi đã. Lang Liêu bàn với vợ vụ tới chàng sẽ dạy dân cấy lúa.

Các tin đã đưa ngày: