NGUYỄN TỘ (1440 - ?) (26/01/2021)

Ông người xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đái, Sơn Tây. Nay là thôn Quan Tử, xã Sơn Đông. Thi đỗ hàng Hoàng giáp, danh sách thứ 3/7 khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức năm thứ 3 (1472). Về kì thi này, sử TT chép: Khoa thi Hội tổ chức vào tháng 3. Lấy đỗ 26 người (ĐKL chép 27 người).

TRIỆU THÁI (? - ?) (17/12/2020)

Ông là người xã Hoàng Chung, huyện Lập Thạch, thuộc Tây Đạo. Nay là thôn Hoàng Chung, xã Đồng Ích. Ông xuất thân từ một gia đình nông dân được theo học trường Nho dưới thuộc Minh. Nhưng vì trong nước lúc đó chỉ là quận huyện thuộc sự thống trị dưới triều đình Vĩnh Lạc (1403 - 1424), nên về thể chế không thể tổ chức được hai kỳ đại khoa tuyển chọn TS là thi Hội và thi Đình (Gia Chỉ quận có thẩm quyền tổ chức kì thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ).

NGUYỄN DUY HIỂU (1602 - 1639) (05/11/2020)

Ông là con trai TS Nguyễn Duy Thì, cha con cùng thi đỗ TS ở tuổi 27 và làm quan cùng triều. Khoa thi Hội, Mậu Thìn, niên hiệu Vinh Tộ thứ 10 (1628) đời vua Lê Thần Tông, có 18 người được chọn vào thi Đình.

NGUYỄN CÔNG PHỤ (1532 - ?) (03/11/2020)

Thi đỗ Đệ tam giáp ĐTS xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang năm thứ 6 (1571) đời vua Mạc Mậu Hợp. Danh sách thứ 7, năm đó ông 40 tuổi. Thời sự của khoa thi được chép lại như sau: Kì thi Hội, lấy được 17 người hợp cách. Vào sách vấn cho 2 người đỗ Tiến sĩ cập đệ (khuyết Trạng nguyên) 3 người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 12 người cho đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

NGUYỄN DUY TƯỜNG (1485 - 1525) (28/10/2020)

Ông là người xã Lí Hải, huyện An Lãng, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây. Nay là thôn Lí Hải, xã Phú Xuân. Ở khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4 (1508) ông thi đỗ danh sách thứ 16 ở hàng Đệ tam giáp ĐTS xuất thân, nhưng đã từ chối không nhận danh hiệu vì cho rằng đỗ thấp, trái lời hứa với thân mẫu khi còn ít tuổi rằng sẽ đô khôi nguyên, nay không thỏa chí.

NGUYỄN BẢO KHUÊ (? - ?) (15/10/2020)

Thi đỗ Đệ nhị giáp T.S xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 đời vua Lê Thành Tông (1487) danh sách thứ 6. Về khoa thi này, bài kí bia Văn Miếu chép: “… nay nhằm tháng 3 năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 18 - Bộ Lễ chiểu theo lệ cũ, được lời vua truyền, mở khoa thi Hội cho sĩ tử trong nước, chọn được 60 người trội nhất. Ngày mồng 7 tháng 4, Hoàng thượng ngự ra trước điện điện ra bài thi hỏi về đạo trị bình.

TRIỆU THỊ KHOAN HÒA ( ? - ? ) (09/10/2020)

Bà là dòng dõi vua Thục An Dương Vương, về làm dâu nhà họ Triệu. Khi nhà Triệu mất, Vệ Dương Vương bị bắt về Bắc sợ liên lụy bà chạy chốn đến chùa Quảng Hựu, thuộc huyện Chu Diên nương náu. Nay là chùa Quảng Hựu, xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên.

DO LA THẦN NỮ ( ? - ?) (07/10/2020)

Bà là người làng Can Bi, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên. Tham gia cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng. Đánh đuổi quân giặc Đông Hán là Tô Định. Năm 43 CN, Hai Bà Trưng tử tiết, bà cũng tự vẫn theo trên dòng Hát Giang. Nhân dân làng Can Bi lập đền thờ Bà. Đền ấy nay gọi là đền Hạ Can Bi, nhìn xuống dòng sông Đức Giang. Trong đền thờ có 2 cỗ bài vị:

AN BÌNH LÝ (? - ?) (02/10/2020)

Ông là con trai của quan huyện lệnh họ Lê trấn nhậm ở huyện Tam Dương. Ba người chị gái của ông là Đạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương cùng ông ngày đêm luyện tập sĩ tốt, kết giao hào kiệt, lựa chọn người tài, chờ thời cơ đánh đuổi quân nhà Hán (Tô Định) thống trị.

Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc và thông điệp của sự nghiệp đổi mới (18/11/2019)

Ông Kim Ngọc (1917-1979) - tên thật là Kim Văn Nguộc, sinh 10 tháng 10 năm 1917, trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Bình Định, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa, vào Đảng từ 1939. Trong kháng chiến chóng Pháp ông từng làm Bí thư Huyện ủy Tam Dương. Bí thư Huyện ủy Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, từng tham gia khu ủy Việt Bắc.
Các tin đã đưa ngày: