TẢTƯỚNG QUỐC TRẦN NGUYÊN HÃN ANH HÙNG DÂN TỘC TRANG SƠN ĐÔNG

08/07/2019

Là cháu nội Đại tư đồ Trần Nguyên Đán và là cháu sáu đời Chiêu Minh vương Tướng quốc Thái sư Trần Quang Khải, Trần Nguyên Hãn (1386 – 1429), sinh ra và lớn lên tại thôn Đa Cai trang Sơn Đông nay là xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông cùng với Nguyễn Trãi là hai khai quốc công thần bậc nhất của Khởi nghĩa Lam Sơn và triều Hậu Lê, có cùng một sự nghiệp hiển hách và một kết cục bi thảm. Nguyễn Trãi bị án oan giết vua ở Lệ Chi viên cùng Nguyễn Thị Lộ chịu tru di tam tộc năm 1442 dưới triều Lê Thái Tông. Còn Trần Nguyên Hãn bị chính Lê Thái Tổ nghe lời dèm pha quy trọng tội, uất ức trầm mình dưới dòng Sông Lô mà chết năm 1429 chỉ sau ngày toàn thắng của nghĩa quân Lam Sơn chưa tới một năm.

Sinh ra và lớn lên trong thời điểm đất nước đang quằn quại dưới gót giày của bọn xâm lược nhà Minh Trung Quốc, ngay từ khi còn nhỏ Trần Nguyên Hãn đã nuôi ý chí trả nợ nước thù nhà. Vốn thông minh, hiếu học, Trần Nguyên Hãn sớm tinh thông võ nghệ, binh pháp. Tháng Hai năm Canh Dần (1410), ông bí mật chiêu tập thanh niên trai tráng trong vùng tổ chức luyện quân, lập căn cứ tại rừng Thần, ao Tó, đầm Trạch (nay gọi là đầm Đa Mang) thuộc hai xã Sơn Đông, Văn Quán, huyện Lập Thạch để chờ thời cơ đánh giặc Minh cứu nước. Ông đã từng cùng một nghĩa sĩ cải trang đột nhập giết chết tên huyện quan Lập Thạch, tay sai của giặc Minh Trần Thiêm Ích ngay tại nhà hắn. Sau đó, chỉ trong một đêm, ông đã dẫn đầu nghĩa quân rừng Thần đánh diệt thành Tam Giang, làm chủ cả vùng Bạch Hạc khiến quân Minh phải kinh hồn bạt vía.

Cuối năm Ất Mùi (1415), Trần Nguyên Hãn về Thăng Long gặp Nguyễn Trãi (là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán). Sau khi bàn việc cứu nước, hai người đồng lòng vào Thanh Hóa tìm gặp thủ lĩnh Lê Lợi của nghĩa quân Lam Sơn và được Lê Lợi đón nhận như hai quý nhân đến phò trợ ông. Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô sách” còn Trần Nguyên Hãn xin về quê dẫn đoàn quân Rừng Thần vào gia nhập nghĩa quân Lam Sơn.

Gần tết năm Mậu Tuất (1418), Trần Nguyên Hãn đem hai trăm quân tinh nhuệ Rừng Thần cùng hơn một trăm ngựa chiến vào tụ nghĩa Lam Sơn. Trần Nguyên Hãn dâng Lê Lợi thanh bảo kiếm của Tướng Quốc Thái sư Trần Quang Khải, mà mẹ Trần Nguyên Hãn đã trao cho con trai, nguyện một lòng một dạ phò Lê Lợi làm minh chủ. Lê Lợi xếp Trần Nguyên Hãn vào Bộ tham mưu “tứ trụ phù Lê” (Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Lê Văn Linh) và giao cho ông việc rèn luyện nghĩa quân.

Ngày mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định vương.

Từ năm 1418 đến năm 1423, nghĩa quân thường xuyên bị giặc Minh tiến đánh vây hãm, phải ba lần rút lên núi Chí Linh, gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ. Trần Nguyên Hãn dốc lòng phò Lê Lợi, lập nhiều chiến công, được Lê Lợi phong chức Tư đồ là chức quan cao nhất lúc bấy giờ trong nghĩa quân Lam Sơn, chỉ sau Lê Lợi, đặc trách về quân sự.

Năm Giáp Thìn (1424), Lê Lợi chuyển quân vào xây dựng căn cứ địa mới ở Nghệ An là nơi có địa bàn rộng lớn, có điều kiện phát triển lực lượng. Trần Nguyên Hãn được giao đánh trận mở đầu, diệt đồn Đa Căng (Bất Căng, xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) để mở đường cho nghĩa quân. Ông đã tiến hành một trận tập kích bất ngờ, giải quyết nhanh gọn chiến trường tạo điều kiện cho nghĩa quân tiến quân thuận lợi.

Tháng 7 năm Ất Tỵ (1425), nghĩa quân tiến xuống bao vây các thành Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, mở rộng vùng giải phóng thuộc hai tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa. Theo đề nghị của Trần Nguyên Hãn và được Nguyễn Trãi ủng hộ, Lê Lợi giao cho ông cùng Thượng tướng Lê Nỗ, Chấp lệnh Lê Đa Bồ và tướng Đinh Đàm dẫn 1.000 quân và 1 voi chiến vào mở vùng Tân Bình - Thuận Hóa (các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay).

Với số quân ít ỏi, ông đã mưu trí tổ chức một trận mai phục địch tại bến Hà Khương (phía Tây sông Gianh ngày nay), tiêu diệt đạo quân Minh do tướng Nhậm Năng chỉ huy. Chỉ trong khoảng nửa năm, với lực lượng nhỏ hơn địch rất nhiều, ông đã chỉ huy giải phóng toàn bộ vùng Tân Bình - Thuận Hóa, xây dựng, củng cố vùng đất rộng, dân đông ở phía Nam Tổ quốc thành hậu phương lớn vững chắc cho nghĩa quân. Hơn hai vạn trai tráng đã tình nguyện gia nhập nghĩa quân, được huấn luyện thành quân tinh nhuệ.

Tháng 4 năm Bính Ngọ (1426), nhà Minh cử Thái tử Thái bảo Vương Thông mang ấn Tổng binh đem 5 vạn quân, 5 nghìn ngựa sang tăng viện đến thành Đông Quan hợp với số quân 5 vạn còn ở trong thành lên 10 vạn tên. Chúng tổ chức nhiều trận đánh lớn ra vùng căn cứ của nghĩa quân nhưng bị thiệt hại rất nặng. Thừa cơ, Nghĩa quân Lam Sơn chuyển sang tấn công vây hãm thành Đông Quan. Trần Nguyên Hãn được cử thống lĩnh lực lượng thủy binh đánh vào phía Đông thành Đông Quan phối hợp với đạo quân chủ lực do Lê Lợi trực tiếp chỉ huy ở phía Nam và cánh quân do Đinh Lễ chỉ huy ở phía Tây.

Ngày 23 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), ông cùng tướng Bùi Bị dẫn hơn 100 chiến thuyền từ sông Lung Giang (sông Đáy) ra cửa sông Hát rồi xuôi theo dòng sông Hồng tiến về Đông Bộ Đầu (dốc Hàng Than ngày nay) đánh tan đội thủy quân địch bắt hơn 100 chiến thuyền giặc, cắt đứt cầu nối Hà Nội - Gia Lâm đồng thời phối hợp đập tan đạo quân của tướng Phương Chính bảo vệ vòng ngoài của thành Đông Quan, giết nhiều giặc, thu rất nhiều vũ khí. Vương Thông phải rút vào cố thủ trong thành Đông Quan, xin vua Minh cho quân ứng cứu. Sau trận này Trần Nguyên Hãn được phong Thái úy là chức quan cao nhất trong hàng ngũ tướng lĩnh.

Ngày 26 tháng chạp năm Bính Ngọ (1427), vua Minh quyết định điều 15 vạn quân, 3 vạn ngựa chia làm hai đạo quân theo hai đường sang ứng cứu Vương Thông, giải vây thành Đông Quan.

Để đối phó với viện binh của quân Minh, Bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định phải khẩn trương bao vây, đánh chiếm và dụ hàng quân giặc đang đóng giữ các thành nằm trên trục đường tiến quân của quân Minh, trong đó thành Xương Giang là cứ điểm trọng yếu nhất của địch. Từ tháng 12 năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi đã phái các tướng Lê Sát, Lê Triện, Nguyễn Đình Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh đi đánh thành Xương Giang. Trải qua 9 tháng vây hãm với hơn 30 trận giao tranh vẫn không hạ được.

Tháng 9 năm 1427, được tin viện binh địch đã đến gần, Lê Lợi giao cho Trần Nguyên Hãn lên trực tiếp chỉ huy với nhiệm vụ phải hạ được thành Xương Giang trước khi viện binh của Liễu Thăng kéo đến. Sau khi xem xét tình hình, Trần Nguyên Hãn cho đào công sự từ các khu rừng lân cận, đào hầm ngầm từ ngoài vào trong thành và huy động dân chúng các làng xung quanh tham gia giúp đỡ nghĩa quân.

Đêm mồng 8 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), Trần Nguyên Hãn mở tổng tấn công, nội công ngoại kích, bốn mặt cùng đánh. Trận đánh diễn ra chưa đầy một canh giờ (hai tiếng đồng hồ ngày nay) thì  toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, các tướng giặc đều bị chết hoặc bị bắt. Hai tên tướng chỉ huy giữ thành là Lý Nhậm và Kim Dận phải nhảy xuống thành tự tử.

Thành Xương Giang bị hạ trước khi Liễu Thăng kéo quân tới biên giới Việt - Trung tròn 10 ngày. Trần Nguyên Hãn nhanh chóng biến Xương Giang thành một pháo đài kiên cố chặn đứng đường tiến quân của địch về Đông Quan. Trong Đại Việt thông sử, nhà bác học Lê Quí Đôn viết: “Trong lịch sử chống ngoại xâm, đây là lần hiếm hoi có một trận thắng của quân ta triệt hạ được một thành trì quan trọng có số quân lớn. Có lẽ thành công của chiến thắng Xương Giang chỉ đứng sau sự kiện Lý Thường Kiệt hạ thành Ung Châu”.

Được tin thắng trận, Lê Lợi quyết định giao tiếp nhiệm vụ cho Trần Nguyên Hãn và Lê Sát dẫn quân lên biên giới chặn đánh viện binh Liễu Thăng.

Trần Nguyên Hãn trực tiếp lên bố trí trận địa và vạch phương án phối hợp chiến đấu với các cánh quân của Trần Lựu, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt…

Ngày 18 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), Liễu Thăng tiến đánh ải Pha Lũy (mục Nam Quan ngày nay). Tướng giữ ải Trần Lựu ra đánh nhưng giả thua lui quân về đóng tại Ải Lưu, rồi lại lui về giữ ải Chi Lăng.

Ngày 20 tháng 9 Đinh Mùi (1427), Liễu Thăng tự mình đốc thúc đạo quân tiên phong tiến tới đánh ải Chi Lăng. Hai đạo quân của Trần Nguyên Hãn và Lê Sát cùng Trần Lựu hợp đánh, chém được đầu Liễu Thăng tại núi Mã Yên, tiêu diệt gần một vạn tên giặc.

Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi (1427), nghĩa quân Lam Sơn tổng công kích. Địch bị chém 5 vạn tên, 3 vạn tên đầu hàng. Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị bắt tại trận cùng với hơn 300 tướng lĩnh lớn nhỏ. Sử cũ Trung Quốc Hoàng Minh thực lục viết “toàn bộ quân Minh bị bắt, bị giết, duy chỉ có một tên chủ sự là Phan Hậu trốn thoát về Trung Quốc”.

Như vậy không đầy 27 ngày, từ 08 - 10 - 1427 đến 03 – 11 - 1427, cả hai đạo quân viện binh của nhà Minh bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn.

Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang là đòn quyết định cuối cùng đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của nhà Minh, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đất nước được giải phóng, nền độc lập dân tộc được khôi phục. Trần Nguyên Hãn là người có công rất lớn trong việc đánh chiếm thành Xương Giang và tổ chức chiến đấu tiêu diệt đạo quân 10 vạn tên của giặc từ Chi Lăng kéo xuống, đập tan hoàn toàn lực lượng viện binh 15 vạn quân của nhà Minh, giải phóng hoàn toàn đất nước.

Ngày 18 tháng Ba năm Mậu Thân (1428), đại hội các tướng lĩnh và các quan văn võ định công ban thưởng. Trần Nguyên Hãn được gia phong Tả tướng quốc, Bình chương quân quốc trọng sự, Khu mật đại sứ.

Vốn là người văn võ song toàn, sâu sắc, nhạy cảm, thấu hiểu lòng người, Trần Nguyên Hãn đã sớm nhìn thấy sự nghi ngại sâu kín, thâm hiểm của nhà vua với những vị tướng tài, có công lớn, uy danh lớn, đức độ lớn, được Nhân Dân tôn phục, nghe theo, mà không cùng dòng họ Lê Lợi, cùng quê Thanh Hoá. Nên chỉ ít lâu sau khi nhận chức Tả Tướng Quốc, trong năm 1428, Trần Nguyên Hãn xin từ chức về nghỉ tại quê nhà, trang Sơn Đông yêu dấu của ông.

Vua Lê Lợi chuẩn y cho về, nhưng dặn rằng cứ một năm hai lần lại vào chầu.

Sử làng Sơn Đông viết: Trần Nguyên Hãn sau mười năm chinh chiến, về ở lại ngôi nhà cũ. Sơn Đông thuộc vùng bán sơn địa ở giáp ven sông Lô, có nhiều ngành nghề: trồng dâu, sơn tràng, nghề mộc... đặc biệt làng Quan Tử xưa có nghề gốm truyền thống lâu đời nên gọi là làng Gốm Trong, lại có làng Phú Thị ở ven sông Lô trên bến dưới thuyền rất sầm uất, gọi là làng Gốm Ngoài, có sông Phó Đáy là nhánh của sông Lô lưu thông trong và ngoài tỉnh, lại gần ngã ba sông Thao, sông Lô, sông Hồng, lưu thông thuận tiện với các tỉnh trong cả nước. Về nghỉ hưu, Trần Nguyên Hãn nghĩ ngay đến việc mở mang xây dựng quê hương Sơn Đông thành vùng kinh tế trù phú, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa cho dân. Ông vận động phát triển nghề gốm, mở rộng vận chuyển hàng hóa bằng thuyền buôn để giao thương các nơi, vận động thanh niên luyện tập võ nghệ, rèn luyện sức khỏe phát huy truyền thống quê hương. Bọn gian thần Trịnh Hoành Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản vốn ghen ghét tài năng của Trần Nguyên Hãn, muốn hãm hại ông bèn sàm tấu lên Lê Thái Tổ “Trần Nguyên Hãn xây phủ đệ lớn, đóng thuyền to, tuyển tráng binh, chở binh khí, luyện tập thủy quân… để làm phản”.

Ngày 26 tháng Hai năm Kỷ Dậu (30 – 3 - 1429), Lê Thái Tổ sai 42 lực sĩ xá nhân đi bắt Trần Nguyên Hãn về triều hỏi tội. Trên đường về Thăng Long, thuyền vừa đến bến Đông Hồ trên dòng sông Lô, Trần Nguyên Hãn ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước cứu dân. Nay sự nghiệp lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm pha mà hại tôi. Xin Hoàng thiên biết cho!” rồi ông trầm mình tự vẫn.

Sử làng Sơn Đông có ghi lại rằng: Gia nhân và lính hầu của nhà ông Hãn đông và nhiều người giỏi võ nghệ, họ rất tức tối về việc vua ra lệnh bắt Trần Nguyên Hãn, khuyên ông chống lại lệnh vua. Nhưng ông nói đại ý: Việc lớn đã thành, vua muốn giết ta. Ta không thể sống được với nhà vua, nhưng ta ra mặt chống lại, nhà vua sẽ viện cớ đó tàn sát giết hại hết con cháu họ Trần. Nay chỉ để mình ta và gia quyến chịu chết là hơn.

26 năm sau, năm Diên Ninh thứ 2 (1455) vua Lê Nhân Tông (1443 – 1459) xuống chiếu minh oan cho ông, trả lại ruộng đất, của cải cho con cháu ông, ra lệnh phục chức, cho gọi con cháu ra làm quan nhưng không ai ra. Đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương. Trần Nguyên Hãn còn được tôn phong danh hiệu “Khai quốc nguyên huân” và nhân dân quê hương đã xây đền thờ ông ngay trên nền nhà cũ của ông (nay thuộc thôn Đa Cai, xã Sơn Đông) gọi là đền “Trần Tả Tướng”, còn có tên là “Đền Quốc Công”. Ngoài ra còn có đền thờ Trần Nguyên Hãn ở thôn Đức Lễ, xã Văn Quán, nơi có căn cứ Rừng Thần cũ; ở làng Phan Lãng, xã Cao Phong, nơi lập trang trại đầu tiên của gia đình ông và ở núi Côn Sơn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong cụm di tích đền thờ Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn. Tại Chi Lăng, nhân dân tỉnh Lạng Sơn cũng đã lập bảo tàng Trần Nguyên Hãn. Ở thành phố Hồ Chí Minh có tượng đài Trần Nguyên Hãn ở ngay trung tâm thành phố từ trước năm 1975. Nhiều thành phố lớn ở nước ta như thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hạ Long…đã có các con đường mang tên Trần Nguyên Hãn.

Ở đền Trần Tả Tướng ở quê hương sơn Đông, có đôi câu đối:

“Lam Sơn tướng nghiệp tồn linh địa

Lô thủy thần tâm đối nghĩa thiên”

Ngày 15 - 01 - 1984, Bộ Văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 06/VH - QĐ xếp hạng di tích lịch sử đền thờ Trần Tả Tướng tại xã Sơn Đông là di tích quốc gia.

Năm 2010, Nhà nước đã đầu tư lớn để tôn tạo, nâng cấp khu đền thờ Trần Tả Tướng. Hiện nay, đền thờ Trần Nguyên Hãn tại Đa Cai, Sơn Đông, Vĩnh Phúc là một điểm du lịch tâm linh rất thu hút ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Trước Đền Trần Tả Tướng có bệ thờ tảng đá lớn. Đó là Đá mài gươm của Trần Nguyên Hãn. Nguyên đó là một tảng đá lớn dạng đá mài, nổi lên bề mặt vài mét, nằm liền góc ao Tó, nơi có bến thuyền rồng của Tả Tướng khi về hưu. Tương truyền thời đi bán dầu, nuôi chí cứu dân, đánh giặc, Trần Nguyên Hãn thường đem kiếm thiêng của Trần Quang Khải mà mẹ ông trao, mài ở đây.

Lũ lụt năm Tân Hợi 1971, tảng đá này bị phù sa Sông Lô vùi lấp sâu khoảng hai mét do lũ lụt. Ngày 12/1/1998, tảng đá thiêng  này được chính quyền và nhân dân xã Sơn Đông trục vớt lên, chuyển về đặt trong khuôn viên đền thờ Tả Tướng Quốc để mọi người cùng chiêm ngưỡng dấu tích còn lại của người anh hùng dân tộc, niềm tự hào lớn của trang Sơn Đông, niềm tự hào lớn của quê hương Vĩnh Phúc./.

 

                                                            Ths Ngô Văn Tới

Các tin đã đưa ngày: