NGUYỄN BẢO KHUÊ (? - ?)

15/10/2020

Thi đỗ Đệ nhị giáp T.S xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 đời vua Lê Thành Tông (1487) danh sách thứ 6. Về khoa thi này, bài kí bia Văn Miếu chép: “… nay nhằm tháng 3 năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 18 - Bộ Lễ chiểu theo lệ cũ, được lời vua truyền, mở khoa thi Hội cho sĩ tử trong nước, chọn được 60 người trội nhất. Ngày mồng 7 tháng 4, Hoàng thượng ngự ra trước điện điện ra bài thi hỏi về đạo trị bình.

Xem quyển rồi, liền mời ra những người đỗ cao vào cửa Nguyệt Quang, vua thân hành xem xét và phân hạng… việc chọn xem ra rất là thận trọng.

Ngày mồng 4 tháng 5, vua ngự ra điện Kính Thiên, truyền gọi tên những người đỗ. Trăm quan mặc triều phục lạy mừng. Treo bảng vàng ngoài của Đông Hoa, sĩ dân thiên hạ xúm xít lại xem ai cũng nói rằng đời Thánh văn minh, người tài lũ lượt xuất hiện. Thực là cuộc gặp gỡ tốt đẹp giữa đời thịnh trị vậy. Lễ nghi, đồ vật ban thưởng đều theo lệ cũ.

Bia được dựng ngày 15 tháng 8 cùng năm ấy.

Bia ghi ông là người huyện Yên Lãng, phủ Tam Đái. Các sách ĐKL chép là xã Lí Hải, huyện An Lãng, phủ Tam Đái, thuộc huyện Thừa tuyên Sơn Tây. Nay là thôn Lí Hải, xã Phú Xuân.

Thi đỗ năm 32 tuổi, ông làm quan chức Hiệu lí viện Hàn Lâm (đứng đầu hàm chánh tứ phẩm) tháng 11 năm Hồng Đức 26 (1495) vua Lê Thánh Tông tuyển chọn 28 người giỏi văn chương, gọi là “Tao đàn nhị nhập bát tú” (28 vì sao của hội Tao Đàn) do Vua Thánh Tông làm nguyên soái.

Danh sách Nguyễn Bảo Khuê đứng hàng 18 kể từ chức nguyên soái trở xuống.

Hội viên hội Tao Đàn từ Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận, vua Thánh Tông đều chọn các ông ở viện Hàn lâm.

- Chức Đông các hiệu thư : 2 ông

- Hàn Lâm thị độc chưởng viện sự: 1 ông

- Hàn Lâm thị độc tham chưởng viện sự: 1 ông

- Hàn Lâm thị thư: 4 ông

- Hàn Lâm đãi chế: 3 ông

- Hàn Lâm hiệu lí: 7 ông

- Hàn Lâm kiểm thảo: 7 ông

Nhưng tiếc rằng hiện nay chưa tìm ra thi phẩm nào của ông, cũng như các tác phẩm khác của ông để lại.

Sang đời vua Lê Hiến Tông, năm Cảnh Thống thứ 7 (1504), ông đã được phong chức Hữu thị lang bộ Lễ (hàm tòng tam phẩm). Tháng 11 năm ấy, vua Túc Tông (lên ngôi vào tháng 6 cùng năm, đổi niên hiệu Thái Trinh năm thứ nhất) cử 3 đoàn sứ gồm 9 người (3 chánh sứ, 6 phó sứ) sang nhà Minh. Ông làm chánh sứ đoàn cầu phong cùng 2 ông phó sứ là Đông các hiệu thư Trần Viết Lương, Hàn lâm hiệu lí Vũ Châu. Nhưng ngày mồng 7 vua Túc Tông ốm nặng. Sang ngày 8, Túc Tông băng ở điện Hoàng Cực - bây giờ sứ đoàn của Nguyễn Bảo Khuê chưa qua cửa ải Nam Quan. Tở biểu cầu phong được sửa đổi đề tên vua Uy Mục (niên hiệu Đoan Khánh) giao cho ông tiếp tục lên đường, công việc bang giao đã thành công.

Trở về nước, ông được phong chức Tả thị lang bộ Hình kiêm nhiệm chức Đô úy là cơ quan kiểm pháp, đều chọn các quan văn có chức cao cho làm.

Khi mất, mộ ông táng tại xã Lí Hải, ông là một trong ba người được thờ cúng ở đình Lí Hải, đều là những người từ giới Nho lâm mà ra. Ông cũng là một trong 8 vị T.S làng Lí Hải được thờ ở “Đền Quốc tế” thờ các vị Tiến sĩ của làng. Bài văn tế tiên hiền có câu: Hữu tuấn bộ Tao Đàn, từ lâm xích chức” là để viết về ông.

                                                                             Lê Kim Thuyên

(Trích Danh nhân Vĩnh Phúc - Tập 1

                                                                             Xuất bản năm 1999)

 

 

Các tin đã đưa ngày: