NGUYỄN DUY TƯỜNG (1485 - 1525)

28/10/2020

Ông là người xã Lí Hải, huyện An Lãng, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây. Nay là thôn Lí Hải, xã Phú Xuân.

Ở khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4 (1508) ông thi đỗ danh sách thứ 16 ở hàng Đệ tam giáp ĐTS xuất thân, nhưng đã từ chối không  nhận danh hiệu vì cho rằng đỗ thấp, trái lời hứa với thân mẫu khi còn ít tuổi rằng sẽ đô khôi nguyên, nay không thỏa chí.

 Ông là một trong 5 trường hợp trong Khoa bảng Việt Nam không nhận danh hiệu Đệ tam giáp ĐTS tức là không chịu xuất thân (ra làm quan).

Đến 3 năm sau, ở khoa thi Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) đời vua Tương Dực đế, ông lại ra thi.

Về khoa thi Tân Mùi bài kí bia Văn miếu chép: Mùa xuân niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3. Bộ Lễ tra cứu lệ cũ họp các học trò giỏi trong nước cho trổ tài trong trường thi, chọn được 47 người ưu tú. Ngày 17 tháng 4, Hoàng Thượng thân hành ra bài hỏi về đường lối trị nước xưa nay ngay ngày hôm sau… nhà vua thân hành xét duyệt định thứ bậc cao thấp…

Ngày mồng 4 tháng 5 Hoàng thượng ngự ở điện Kính Thiên cho xướng tên những người đỗ. Các quan mũ áo chầu vào mừng. Bộ Lại ban ấn mệnh nhà vua - Bộ Lễ mang bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái Học.

Lại cấp cho xiêm áo, mũ đai và cho dự yến. Thế là lễ nhạc đãi ngộ người hiền đều đầy đủ.

Khoa này cho 3 người đỗ TS cập đệ, 9 người đỗ TS xuất thân, 35 người đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân.

Khoa này tái trúng nhị giáp, nên ông mới nhận vừa năm ông 27 tuổi.

Ông là quan chức Tham chính sứ Thanh Hoa, hàm tòng tứ phẩm - rồi lại chuyển ra làm Tham chính xứ Kinh Bắc.

Mạc Đăng Dung có ý muốn chiếm ngai vàng của nhà Lê, ra sức vây ép vua Chiêu Tông. Quyền thần trong triều, người thì sợ uy vũ của họ Mạc, người thì vì lợi lộc riêng tư mà ngồi nhìn triều chính nghiêng ngả.

Đến khi Vua Chiêu Tông được Trịnh Tuy hộ giá chạy khỏi kinh thành, ra đi tới núi Mộng Sơn, phát chiếu Cần vương, ông cùng với 5 vị trung thần nữa là Lễ bộ thượng thư Đàm Thận Huy (người huyện Đông Ngàn, TS khoa Canh Tuất 1490); Thượng thư Nguyễn Hữu Nghiêm (người huyện Đồng Ngàn, TH Khoa Mậu Thìn - 1508), Nguyễn Tự Cường (người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn HG khoa Giáp Tuất 1514); Kinh Bắc Tham chính sứ Hà Phi Chuẩn; Đô ngự sử Lê Tuấn Mậu (người huyện Yên Phong, H.G khoa Canh Tuất 1490) và viên quan võ Nghiêm Bá Kí, vâng theo mật chiếu trở về quê nhà thống lĩnh hương binh cố thủ đô ở địa phương mình, chống lại Mạc Đăng Dung.

Tháng 12 năm Ất Dậu (1525) Đăng Dung dẹp yên được sự phản kháng của Hà phi Chuẩn ở Bắc Giang, làn sóng chống đối Đăng Dung của các quần thần nhà Lê bị suy kiệt, ông Nguyễn Duy Tường đã chống cự đến phút cuối cùng. Trong một trận giao chiến quyết liệt với quân Mạc ở vùng huyện An Lãng (có sách chép ở Đồng Cổ) ông bị thương - ông biết không thể sống được, ông đã dũng cảm chặt đứt một cánh tay, đặt lên mình ngựa cho về nhà trả nghĩa Mẫu thân, rồi quyết chiến đấu đến cùng và hi sinh. Nhà Lê Trung hưng năm 1666 tưởng lục các công thần tử tiết, ông được phong Thượng đẳng phúc thần, danh sách thứ 7 trong 8 người ở hàng Thượng đẳng (bật nhất).

Được lập đền thờ “Quốc tế” ở quê hương Lí Hải, đề 3 chữ TIẾT NGHĨA TỪ, gọi là “Đền Lí Hải” chép trong các sách địa chí cổ. Được ban tên thụy là Nhữ Trực, tước Đại vương, phong Phúc thần chép trong tự điển thánh thần của Bộ Lễ nhà Lê. Nguyễn Duy Tường do vậy, ở trong triều đình là bề tôi trung dũng, ở gia đình là người con hiếu thảo. Ông còn được thờ ở đình làng Lí Hải cùng với Thần Cao Sơn và Cao Sơn Thiên Sách tôn thần.

Họ Nguyễn làng Lí Hải lập từ đường thờ ông có 17 đạo sắc phong thần của nhà Lê và nhà Nguyễn. Nay còn bức hoành phi: VẠN CỔ HƯƠNG và 1 câu đối:

Lưỡng chiếm ngao đầu gia hiếu tử

Độc đương hổ khẩu quốc trung thần

(Hai lần đỗ cao, con có hiếu trong gia đình

Một thân miệng hổ, tôi trung của nước nhà).

Ảnh hưởng của ông khá sâu rộng. Cả làng Lí Hải đến nay vẫn còn kiêng tên húy của ông, độc chệch là “Tàng”. Bờ “Tàng”.

Bài văn tế tiên hiền làng Lí Hải có câu chúc:

“Hữu cương thường thân nhiệm, đại tiết huyền liệt nhật thu sương” là để ca ngợi ông. Bài văn Xuân tế ngày 20 tháng 2 ở đền Tiết Nghĩa viết:

Thượng đẳng thần:

Thông minh á thánh

Trí dũng song toàn

Lưỡng chiếm ngao đầu: Bắc Đẩu, Thái Sơn ngưỡng vọng

Độc đương hổ khẩu: Trung thần hiếu tử vô tàm

Thượng đẳng sắc phong

Vinh phong quốc điển

Miếu từ sách lập.

Lũy thụ ân đàm.

Nghĩa là:

Bậc thần thượng đẳng

Thông minh tầy thánh

Trí dũng đủ đầy

Hai lần thi đỗ: Bắc Đẩu, Thái Sơn trông ngóng

Một mình miệng hổ: tôi trung, con hiếu không thẹn

Sắc ban bậc nhất

Ơn nước vinh phong

Miếu đền được lập

Ghi mãi ơn sâu.

Con cháu ông về sau đều thành đạt.

- Con trai là Nguyễn Hoằng Xước đỗ TS đời Mạc Đăng Doanh.

- Cháu nội là Nguyễn Thế Thủ đỗ TS đời Mạc Mậu Hợp.

- Cháu 6 đời là Nguyễn Quang Luân - Đình nguyên Hoàng giáp khoa Quí Mùi đời Chính Hòa.

Nhà ông có 3 đời liền đều đỗ Đại khoa - vì vậy khi viết “Thiên Nam thi tập”. TS Hà Nhậm Đại đã ngợi ca:

“Khoa đệ trùng đăng tứ hải văn

Tổn sinh nghĩa chỉ phụ vi thần

Tử tôn tích thế đăng Nho tuyển

Thiên lí chiêu chiêu hiển tại nhân”.

(Thi đậu liền khoa, bốn bể hay

Nghĩa vì chết trẻ, phận làm tôi

Cháu con nối tiếp, Nho khoa chọn

Nghìn dặm cùng soi, rõ tại người).

Đền “Quốc tế” ở Lí Hải có trồng 18 cây muỗm - khi cuộc chiến tranh bằng phi cơ của Mĩ ra miền Bắc. Trung ương và cơ quan Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đều sơ tán về làng Lí Hải. Vào các năm 1965-1966 các lãnh tụ như Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Văn Đồng, Xuân Thủy đều đã có về Lí Hải. Các ông Lương Bằng, Xuân Thủy đề đã vào đền thờ Nguyễn Duy Tường dâng hương.

Lê Kim Thuyên

(Trích Danh nhân Vĩnh Phúc - Tập 1

                                                                             Xuất bản năm 1999)

 

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: