TRIỆU THÁI (? - ?)

17/12/2020

Ông là người xã Hoàng Chung, huyện Lập Thạch, thuộc Tây Đạo. Nay là thôn Hoàng Chung, xã Đồng Ích.

Ông xuất thân từ một gia đình nông dân được theo học trường Nho dưới thuộc Minh. Nhưng vì trong nước lúc đó chỉ là quận huyện thuộc sự thống trị dưới triều đình Vĩnh Lạc (1403 - 1424), nên về thể chế không thể tổ chức được hai kỳ đại khoa tuyển chọn TS là thi Hội và thi Đình (Gia Chỉ quận có thẩm quyền tổ chức kì thi Hương, tuyển chọn cử nhân và sinh đồ).

Muốn ra là quan, không có con đường nào khác ông Triệu Thái phải lặn lội sang tận kinh đô Trung Quốc lúc đó là Yên Kinh để ứng thi.

Ông đã đỗ TS dưới triều vua Vĩnh Lạc, rồi nhận chức quan học sĩ Viện Hàn lâm trong triều đình Trung Quốc.

Năm 1428, khi nước nhà đã giành được độc lập, ông mới xin phép nhà vua, với lí do về quê thăm cha mẹ (nguyên văn: Khất quy tỉnh thân). Rồi ở lại quê nhà.

Thời kỳ này ông có công lao lớn với dân làng là ông đã quy hoạch làng Hoàng Chung với một con đường ruột ở bìa làng, nối liền 2 làng cổ là Đại Lữ và Tiên Lữ giữa cánh đồng chiêm trũng, các ngõ rẽ đều vuông góc với đường trục, có khoảng cách hai nhà giáp lưng vào nhau, tạo thành ngõ xương cá, rất tiện cho sinh hoạt và trị an. Giáp đường về mặt phía Tây Nam, chia thành từng ô lấy đất đắp nền làng, trồng tre chắn gió, rào làng. Các ô đất trũng trở thành ao, dân làng chuyển cấy rau cần về mùa đông, cũng là một nguồn thu lợi về kinh tế.

Ngày 25 tháng 2 năm Kỉ Dậu (1429) Hoàng đế Lê Lợi tổ chức khoa thi Minh Kinh, nghĩa là làm sáng tỏ sách Kinh điển của Nho gia.

(Khoa Minh Kinh ở Việt Nam được tổ chức từ đời Lí. Người thi đỗ gọi là Minh Kinh bác sĩ).

Thành phần được dự thi khá rộng rãi gồm: Quân nhân các phủ lộ, người ẩn dật ở núi rừng nhưng phải thông kinh sử, giỏi văn nghệ. Quan văn thì từ hàng tứ phẩm trở xuống. Mục đích kì thi là nhà vua trực tiếp tuyển dụng người tài giỏi: Hiền, Lương, Phương, Chính (tài giỏi lương thiện đức hạnh, ngay thẳng) bổ sung vào hàng ngũ quan lại trong triều đình sau chiến tranh giành độc lập.

Đề thi chỉ có 2 bài: Một bài thơ, một bài phú.

1. Đề thơ là: Dụng chân Nho chính trực thi (dùng người Nho học ngay thẳng - thơ).

2 Đề Phú là: Thiên hạ cần vương phú (người người hãy giúp dập nhà vua - phú).

Có sách cũng chép đề là: Chí Linh sơn phú (bài phú về núi Chí Linh).

Nhận xét về khoa thi này, các bài kí văn bia TS Văn Miếu - Hà Nội đã viết:

- Thuở ấy khoa thi TS danh thuy chưa đạt, song cái thực sùng Nho và phương pháp kén người thì đại khái đã đủ đạt nền thái bình cho muôn đời từ đây.

(Bài kí khoa Đại Bảo - Nhâm Tuất 1422. Thân Nhân Trung soạn).

… Thế thì điểm văn minh thánh hiền, việc khoa cử gây từ năm Thuận Thiên.

(Bài kí khoa Mậu Thìn - Thái Hòa - 1488 Đỗ Nhuận soạn).

- Tuy tên khoa TS chưa đặt mà khí mạch tư văn đã hoàn toàn. Ai bảo rằng người tài một đời được thịnh chẳng cội gốc từ đây ru.

(Bài kí khoa Quang Thuận - Bính Tuất - 1466 Đàm Văn Lễ soạn).

Các sách ĐKL chỉ chép được danh sách số đỗ có 7 người. Ông Triệu Thái dự thi với tư cách là người ẩn sĩ và đã đỗ danh sách thứ nhất.

Do vậy, đền thờ ông mới có đôi câu đối:

Tiến sĩ lưỡng bang nhân mạc đối.

Lưu danh vạn cổ nhật chi quang.

Tạm dịch:

Tiến sĩ hai bang không người sánh

Tên ghi muôn thuở sáng ngày ngày

Sau khi đỗ, ông nhận chức quan Thị Ngự sử (Lê Thánh Tông đổi gọi Đô Ngự Sử), là chức quan đứng đầu Ngự sử đài, chức danh rất trọng.

Ông còn được Hoàng đế Lê Lợi giao cho việc định ra luật lệ của nhà Lê. Sử sách còn chép những người “Định điều luật” thời ấy có Nguyễn Trãi, Phan Thu Tiên. Như vậy có thể hiểu rằng những đạo luật ban hành năm Canh Tuất (1430) và chương về điền sản gồm 14 điều bổ sung năm Kỉ tị đời Thái Hòa (1449) đều có công đóng góp của ông.

Nay ở từ đường họ Triệu còn có đôi câu đối:

Lưỡng quốc khôi nguyên Nam Bắc anh hùng vô dĩ đối

Bách vương điển luật giản biên tính tự hữu trường lưu

Cùng bức hoành: Định quốc điều luật.

Dưới triều vua Lê Thái Tông, ông còn có hai đóng góp quan trọng nữa, được chép vào Quốc sử:

- Giữ chức quan giám thí (phó chủ khảo) ở kì thi Đình khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo (1442). Đó là khoa thi TS thứ nhất của triều đình nhà Lê được đánh giá là: “…Từ cách thức thi kẻ sĩ, phương pháp dùng người hiền cội gốc từ đây”. Hoặc là: “… Người tài tuấn nhiều, kỷ cương phấn chấn, làm sáng đời trước, mở đường đời sau”. (Bài ký của Thân Nhân Trung).

          Khoa thi này lấy đỗ TN Nguyễn Trực, sử thần Ngô Sĩ Liên là những người về sau rất nổi tiếng.

          Tháng 10 cùng năm ấy, ông lại được các triều thần tiến cử đi sứ nhà Minh, nhận lĩnh phần công việc: “Tâu về địa phương Châu Khâm”, trong sứ đoàn 4 người sang Yên Kinh (Bắc Kinh).

          Đó là, công việc biện luận về những vấn đề rắc rối, tranh chấp xâm phạm cướp người và súc vật do các thủ lĩnh địa phương triều Minh gây ra, kéo dài trong nhiều năm. Khởi đầu từ năm 1420 ở khu vực biên giớii Đông Bắc, trong vùng Chiêm Lũng, Như Tích là nơi có mâu thuẫn cao nhất. Cuối cùng thì hai vùng Chiêm Lũng và Như Tích có tên trong bản đồ nhà Lê.

          + Châu Chiêm Lũng có 11 xã, 4 động

          + Châu Như Tích có 67 xã, 4 động.

          Sách Dư địa  chí của Nguyễn Trãi chép thuộc về An Bang. Nay thuộc tỉnh Quảng Yên.

          Sử CM chép “Bấy giờ triệu Nhân Chính, Tri Châu, Long Châu, ủy thác cho bọn đầu mục là Lữ Thông quản lĩnh hơn 1.000 quân, vượt qua biên giới, xâm chiếm Châu Hạ Tư Lang, cướp bóc lung tung người và súc vật. Các đại thần xin sai Thị Ngự Sử Triệu Thái sang nhà Minh tâu bày về việc này”.

          Đó là những công trạng đóng góp của ông khi làm quan.

          Sau khi ông mất được ban tên thụy là Cự Tuấn, được dân xã Hoàng Chung suy tôn, phối thờ ở đình làng cùng với 3 vị thành hoàng Đông Nha Tam vị Đại Vương và được triều đình phong “Thần”.

          Tên ông có trong 3 đạo sắc hợp phong và 1 đạo biệt phong là sắc triều Nguyễn, thờ ở đình.

          Ông có đền thờ riêng ở làng Hoàng Trung, gọi là Lưỡng Quốc TS Từ. Bài vị có dòng thánh tâm: Minh Lê Triều TS. Tuấn Lương Dực Bảo Trung Hưng Triệu Tướng Công Tự Thái, Thụy Cứ Tuấn Phủ Quân Định Quốc Điều Luật.

          Thi phẩm của Triệu Thái.

          Theo sách Quần hiền tinh tuyển thi tập, dẫn trong Thiên Nam thi tập của TS Hà Nhậm Đại, có một bài thơ đối sự của ông. Nguyên do là ở kì thi năm 1442, ông được cử giữ chức Giám thí, có xá nhân tên là Phạm Hữu Sản có câu thơ tặng ông:

          Đan bút tích tằng Minh thứ ngục

Tặng quân dĩ nhất thủy bôi thanh.

Nghĩa là:

Sơn bút triều Minh chất chứa như cái án phép đình chưa sử

Tặng ông một chén nước soi trong.

Nhắc lại việc ông từng làm quan ở triều Minh, mà nay vẫn đảm nhận việc lớn ở nước nhà.

Ông viết thơ trả lời, ngôn từ thật khảng khái:

Bắc Nam khoa giáp bản đồng danh

Hàn uyển, Ô Đài hà quốc vinh

Liêm trực tại gia đôn nhất tiết

Hà tu nhân tặng thủy bôi thanh.

(Bắc Nam khoa giáp cùng có tên

Đài  Ô, vườn Hàn đã rất vinh

Ngay thẳng ở nhà lòng một tiết

Cớ sao người tặng chén soi trong).

Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), xảy ra vụ tự trầm của Trần Nguyên Hãn ở xã Sơn Đông. Tiếng vang của vụ ấn này chắc có ảnh hưởng tới ông, khi ông đang còn ở quê hương. Là người đỗ TS từng làm quan ở triều đình nước đối dịch, khiến ông hẳn có suy tư, khi ông viết:

Quốc dân bạo hề, thính nịnh thần.

Chư Vương hà sự tác khôi trần

Cao Hoàng sự nghiệp kham thùy lệ

Xã tắc sơn hà chuyển tại nhân

(Vua ác bởi nghe kẻ nịnh thần

Bụi trần người dưới xót xa thầm

Cao Hoàng sự nghiệp, bao nước mắt

Non nước vơi đầy bởi tại dân).

Ông là một văn thần đời Lê sơ với Đỗ Nhuận và Đặng Minh Khiêm được TS Hà Nhậm Đại hết mức trân trọng./.

 

Lê Kim Thuyên

(Trích Danh nhân Vĩnh Phúc - Tập 1

                                                                             Xuất bản năm 1999)

 

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: