Kế thể đăng khoa của dòng họ Nguyễn Duy Xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

16/08/2016

Vĩnh Phúc là vùng đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời cũng như truyền thống hiếu học, nơi sản sinh ra các nhà văn hóa, khoa bảng, chính trị nổi tiếng. Qua các thời kì lịch sử khoa cử Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn, Vĩnh Phúc đã có rất nhiều người đỗ đạt, đặc biệt trong đó có các dòng họ, nhiều người cùng thi đỗ. Đây gọi là kế thế đăng khoa, điều này không phải là một hiện tượng đặc biệt mà là một điều khá phổ biến trong các dòng họ khoa bảng ở tỉnh Vĩnh Phúc.

 Dòng họ Nguyễn xã Lý Hải (nay là thôn Lý Hải, xã Phú Xuân,, huyện Bình Xuyên)

Nguyễn Duy Phổ, đỗ Hoàng giáp năm 1511

Nguyễn Duy Tường, đỗ Hoàng giáp năm 1511 (cha của Nguyễn Hoành Xước)

Nguyễn Hoành Xước, đỗ Tiến sĩ năm 1538 (cha của Nguyễn Thế Thủ)

Nguyễn Thế Thủ, đỗ Tiến sĩ năm 1586

Nguyễn Luân, đỗ Hoàng giáp năm 1703

Dòng họ Triệu xã Hoàng Chung (nay là thôn Hoàng  Chung, xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch)

Triệu Thái, đỗ khoa Minh Kinh 1429 (ông nội)

Triệu Tuyên phù, đỗ Hoàng giáp năm 1496 (cháu nội)

Dòng họ Nguyễn, họ Đặng ở Quan Tử (nay là thôn Quan Tử, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch)

Nguyễn Tộ, đỗ Hoàng giáp năm 1472 (anh)

Nguyễn Tư Phúc đỗ Tiến sĩ năm 1475 (em)

Nguyễn Trinh đỗ Tiến sĩ năm 1475 (em)

Đặng Thận đỗ Tiến sĩ năm 1484 (em)

Đặng Điềm đỗ tiến sĩ năm 1490 (anh)

Dòng họ Nguyễn xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường

Nguyễn Văn Chất, đỗ Hoàng giáp năm 1448 (cha)

Nguyễn Văn Tú, đỗ Tiến sĩ năm 1481 (con)

Dòng họ Hà ở xã Như Thụy, huyện Lập Thạch

Hà Sỹ Vọng, đỗ Tiến sĩ năm 1535 (anh)

Hà Nhậm Đại, đỗ Tiến sĩ năm 1574 (em)

Dòng họ Dương ở xã Khai Quang (nay là phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên)

Dương Đức Giản, đỗ Hoàng giáp năm 1505 (ông)

Dương Tông, đỗ Tiến sĩ năm 1589 (cháu)

Dòng họ Nguyễn, xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường

Nguyễn Tiến Sách, đỗ Tiến sĩ năm 1670 (cha)

Nguyễn Đình Toản, đỗ Tiến sỹ năm 1718 (con)[1]

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tập trung tư liệu nghiên cứu về một trong các hiện tượng như vậy về hai vị danh nhân người Thanh Lãng. Nguyễn Duy Thì, Nguyễn Duy Hiểu, kế thế đăng khoa, hai cha con cùng thi đỗ, làm quan trong triều, công cao, chức trọng có những đóng góp lớn lao với đất nước.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí “Nguyễn Duy Thì là người xã Yên Lãng, năm 27 tuổi thi đỗ nhị giáp tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng thứ 27 (1598) đời  Lê Thế Tông.[2]

Đại Việt sử kí toàn thư ghi “Mậu Tuất năm thứ 21, Minh Vạn Lịch năm thứ 26, tháng 4 thi hội, các sĩ nhân trong nước cho bọn Nguyễn Thứ, Nguyễn Duy Thì, Lê Bật Tứ đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Kiểm đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.[3]

Trong bài kí trên bia tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng 21 (1598) do Mậu lâm lang Hàn lâm viện hiệu thảo Trịnh Cao Đệ soạn thì khoa thi này lấy đỗ 5 người, 3 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 2 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.[4]

Theo cuốn các nhà khoa bảng Việt Nam của nhóm biên soạn Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi:

Nguyễn Duy Thì (1572-1651) là người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng (nay là thôn Xuân Lãng, xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc). Cha Nguyễn Duy Hiểu. 27 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng 21 (1598) đời Lê Thế Tông.

Ông từng đi sứ nhà Minh, làm quan đến chức Tham tụng, hộ bộ thượng thư kiêm chưởng lục bộ sự, thái phó, tước Tuyền quận công vinh phong Tá Lý công thần, được mở phủ ở Bình Quân. Thọ 81 tuổi. Sau khi mất được truy tặng chức Thái phó, thụy là Hành Độ.[5]

Bản tư liệu chữ Hán còn lưu lại tại đền thờ họ Nguyễn Duy là cuốn Chúc thư giao khám hiện trang gia phả hành trạng công thần do những người trong dòng họ viết vào thời Cảnh Hưng những năm 1753, 1776  (T.s Vương Thị Hường dịch, PGS.TS Nguyễn Tá Nhí hiệu đính) thì Nguyễn Duy là một dòng họ nổi danh về văn có tiến sĩ, về võ có quận công.  Nguyễn Duy Thì là Dực Vận công thần Lại bộ thương thư kiêm Chưởng lục bộ sự, làm bề tôi hết mình vì chúa, dân trong thiên hạ đều được đội ơn. Nhân dân các nơi như Lý hải, Hợp Lễ, An Lãng, Xuân Lãng, Lý Nhân, Kim Đà, Quan Đài, Đinh Xá đều thờ cúng.[6]

Trong tư liệu này, năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753) cháu đời sau của dòng họ là Nguyễn Duy Chính cũng ghi chép về Nguyễn Duy Thì như sau:

Năm Mậu Tuất đi thi trúng Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, được ban chức Hàn lâm viện hiệu lí, phụng sự đức thành tổ Triết Vương (Trịnh Tùng).

Năm Canh Tý phụng hầu ngự giá hồi cung về Thanh Hoa.

Năm Tân Sửu nhận chức Hộ khoa Đô cấp sự trung, tước Tử.

Năm Bính Ngọ phụng mệnh làm Phó sứ, đi sứ phương Bắc tuế cống, được ban 45 mẫu ruộng.

Năm Mậu Thân được thăng chức Thiêm đô, tước Bá. Lại ban hai xã An Lãng, Hợp Lễ phục vụ khi có việc.

Năm Tân Hợi được thăng chức Phó đô.

Năm Ất Mão thăng chức Lễ bộ tả thị lang.

Năm Canh thân được phụng sự theo hầu xa giá.

Tháng 6 năm Quý Hợi xảy ra chuyện, phụng sự Đức Văn tổ Nghi Vương (Trịnh Tráng) hồi cung về Thanh Hoa, được ban 20 dật bạc. Tham mưu quân sự cho chúa cách tiến đánh nên bình được giặc Mạc, được vinh phong 2 chữ Dực Vận, Tán Trị công thần, ban chức Lại bộ Tả thị lang, tước Hầu. Lại được ban thêm cho ruộng lộc điền ở Thiên Lộc bản huyện là 105 mẫu.

Năm Giáp Tý phụng mệnh đốc xuất Thái bảo Luân Quận công tiến đánh Cao Bằng, toàn thắng vẻ vang, bắt được giặc Mạc là Càn Thống, giam giải về kinh.

Năm Bính Dần lại phụng đốc xuất Thái bảo Lân quận công tiến đánh Cao Bằng, chém được tướng giặc là Thái bảo Lâm Quốc công. Trở về được thăng Thượng thư bộ công, được ban thưởng đất ngụ lộc ở xã Trung Hậu bản huyện.

Năm Đinh Mão phụng sắc mệnh đi Hóa Châu dụ giặc Nguyễn, bị giặc Nguyễn làm nhục giữa triều nhưng không quy phục. Cuối cùng được thả, trở về bị giáng chức Thiếu phó.

Năm Kỉ Tỵ phụng mệnh đốc xuất Thái bảo Nhạc quận công đáng giặc Uy Lãng. Tiến đến nơi tướng giặc Uy Lãng đóng quân, xem xét tình thế, thảo một bản dụ văn khiến tướng giặc Uy Lãng phục tội, trở về được khen là “ một lời nói mà đánh thắng cả 10 vạn quân”. Vì thế được thăng tước Quận công, lại ban cho đất ngụ lộc ở xã Phù Ninh và huyện Đông Ngạn.

Năm Quý Dậu phụng mệnh theo xa giá đi chinh phục vùng đất Quảng Nam.

Năm Giáp Tuất nhân có việc mở rộng vùng biên ngoại, phụng mệnh làm quan tại Lạng Sơn, lo lắng các khoản tuế cống.

Năm Kỉ Mão phụng mệnh xa giá, tham mưu quân sự để tiến đánh giặc ở Cao Bằng.

Năm Canh Thìn phụng mệnh thăng chức Quốc tử giám Tế tửu Hàn Lâm viện thị độc.

Năm Nhâm Ngọ thăng chức Thượng thư bộ binh.

Năm Ất Dậu phụng theo hầu Hoằng Tổ Dương Vương (Trịnh Tạc), nhờ tài quyết đoán về quân sự nên đã chấn an được cả bên trong lẫn bên ngoài được phong là Thượng thư bộ Lại, kiêm chức Chưởng lục bộ sự Thái phó, khai binh quân phủ, được cấp 50 mẫu ruộng.

Năm Bính Tuất phụng ngự giá tiến đánh vùng Long Xuyên, bắt được giặc Minh là Triệu Đào và Mạc Kính Diệu.  Lại viết bài văn can gián nhân dân và quan lại địa phương khiến họ đều thần phục vì thế được tặng thưởng 1 bộ quần áo ngự bào và 1 dật vàng.

Năm Tân Mão, Nguyễn Duy Thì mất được thăng chức Thái tể, ban cho đất tạo lệ ở các xã An Lãng, Hợp Lễ, Thiên Lộc, Trung Hậu, Ninh Giang ở hai huyện An Lãng và Đông Ngạn.[7]

Trong cuốn các nhà khoa bảng Việt nam của nhóm biên soạn Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi:

Nguyễn Duy Thì (1572-1651) là người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng nay là thôn Xuân Lãng xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cha Nguyễn Duy Hiểu. 27 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Quang Hưng 21 (1598) đời Lê Thế Tông.

Ông từng đi sứ nhà Minh, làm quan đến chức Tham tụng, hộ bộ thượng thư kiêm chưởng lục bộ sự, thái phó, tước Tuyền quận công vinh phong Tá Lý công thần, được mở phủ ở Bình Quân. Thọ 81 tuổi. Sau khi mất được truy tặng chức Thái phó, thụy là Hành Độ.[8]

Về công trạng của Nguyễn Duy Thì, trong gần bốn mươi năm nhiệm chức tại triều đình Lê-Trịnh với rất nhiều chức vụ khác nhau nhưng ở cương vị nào ông cũng có rất nhiều đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, giáo dục nhất là vấn đề kỷ cương phép nước và tấm lòng yêu nước thương dân mà ông từng nêu gương tại triều đình vua Lê chúa Trịnh trong bối cảnh chung của thiết chế chính trị đương thời. Trong bài khải dâng lên Bình Anh Vương, ông đã viết “dân là gốc của nước, đạo trị nước chỉ là yêu dân mà thôi. Lại nghĩ rằng trời với dân cùng một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời. Thế cho nên người khéo trị nước yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy đói rét thì thương, thấy khổ sở thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, không đánh thuế bừa bãi để cho dân đều được thỏa sống mà không có tiếng oán than[9]

Có thể nói Nguyễn Duy Thì là một trong những danh nhân tiêu biểu về truyền thống nho học của đất và người Vĩnh Phúc, đã đạt tới đức cao, vọng trọng có nhiều công lao với đất nước và nhân dân được người đời ghi nhớ. Sử cũ chép rằng “ông được người đời bấy giờ coi là chỗ dữa vững chắc và tin cậy”.

Nguyễn Duy Hiểu (1602-?) Người xã Yên Lãng, huyện Yên Lãng. (nay là thôn Xuân Lãng xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc). Con của Nguyễn Duy thì. 27 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Thiêm đô Ngự sử. Từng đi sứ sang nhà Minh, mất trên đường đi, được truy tặng chức Hình bộ thị lang, tước hầu.[10]

Bài kí trên bia tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) cũng do Mậu lâm lang Hàn lâm viện hiệu thảo Trịnh Cao đệ vâng soạn thì khoa thi này lấy đỗ 18 người, gồm 1 đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, 3 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, 14 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Tên ông đứng thứ 3 trong hàng đệ nhị giáp.[11]

Về quan trường có thể nói ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình như Đô cấp trung sự lại Khoa, Thiêm đô ngự sử ở sử đài.

Năm Dương Hòa thứ 3 (1637) vùa Lê Thần Tông cử 2 đoàn sứ bộ cùng sang Bắc Kinh dâng lễ cống lên vua Sùng Trinh nhà Minh, một đoàn do Nguyễn Duy Hiểu làm chánh sứ, hai phó sứ là nguyễn Quang Minh và Trần Nghi; một đoàn do Giang Văn Minh là chánh sứ, hai viên phó sứ là Nguyễn Bình và Thân Khuê. Kết quả kì đi sứ không thành, hai ông chánh sứ là Nguyễn Duy Hiểu và Giang Văn Minh đều đã anh dũng hy sinh. Tuy nhiên khí phách anh hùng ngàn năm văn hiến lại được thể hiện ngay giữa sân điện đối đáp với vua Minh bởi vế đối bất hủ của chánh sứ Dương Văn Minh:

Đằng giang tự cổ huyết do hồng

Sau khi ông mất vì việc nước, ngày 23 tháng giêng năm Dương Hòa thứ 6 (1640) đời vua Lê Thần Tông, ông được triều đình bình công gia tặng chức Tả Thị lang bộ Hình, ban tước Nghĩa Phú Hầu, tên thụy và Văn Định.

Hiện nay trong di tích thờ cúng hai vị tại dòng họ Nguyễn Duy ở Thanh Lãng còn lưu giữ 34 đạo sắc phong, cùng nhiều hoành phi, câu đối, hương án, đồ thờ. Đây là những hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa rất quan trọng đang được bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị.

Về vấn đề kế thế đăng khoa trong dòng họ Nguyễn Duy, ngoải sự nỗ lực của chính bản thân mỗi người trong gia đình dòng họ thì truyền thống học hành khoa cử cũng là một yếu tố quan trọng. Sinh thời Nguyễn Duy Thì đã rất lưu tâm đến việc này. Trong cuốn Chúc thư giao khám hiện trạng gia phả công thần của dòng họ cũng ghi rõ rằng “ dùng đất đai ruộng vườn hương hỏa của tổ tiên sau đó mua thêm một số đất đai ruộng, vườn và ao, góp cả số cũ lẫn số mới rồi giao phó cho con trai trưởng là Thiêm đô Ngự sử Nghĩa Phú tử, tặng Hình bộ Tả thị lang Nghĩa Phú hầu Nguyễn Duy Hiểu và cháu trai thứ nhất là Hồng lô Khanh Nguyễn Duy Kính trông coi, gìn giữ mãi mãi để lấy đó làm nhu phí trong học tập và giảng dạy hàng ngày. Trong dòng họ, con trai phải chăm chỉ học tập để nối đời đăng khoa, làm hưng vượng gia đạo, con gái cần giữ gìn phép tắc, hành sự cẩn thận theo lễ nghĩa hợp với gia phong. Nếu con trai mà không biết kính nể trên dưới, có những hành vi ngạo mạn, con gái không chịu cẩn thận giữ gìn phép tắc gia quy, tự làm theo ý riêng của mình để người đời đàm tiếu thì sẽ bị luận vào tội bất hiếu. Và như thế sẽ bị lấy lại phần đất đai cơ nghiệp đã được chia cho trước đây. Thế mới được gọi là con hiếu cháu hiền, nước có quốc pháp.[12]

Nguyễn Duy Thì, nguyễn Duy Hiểu xứng đáng là tấm gương sáng tiêu biểu cho truyền thống hiếu học và khoa cử, những công lao to lớn của hai vị đối với đất nước, nhân dân mãi là niềm tự hào cho các thế hệ trong dòng họ Nguyễn Duy, góp phần gìn giữ và kế thừa những giá trị tốt đẹp của quê hương, vùng đất và con người Vĩnh Phúc.

Tài liệu tham khảo

1. Chúc thư giao khám hiện trạng gia phả hành trạng công thần (tư liệu chữ Hán-Nôm tại di tích đền thờ họ Nguyễn Duy)

2. Đại việt sử ký toàn thư tập IV, Nxb Khoa học xã hội. H, 1968.

3. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi. Các nhà khoa bảng Việt nam 1075-1919. Nxb văn học, Hà Nội

4.Ngô Đức Thọ (chủ biên) 2007. Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia tiến sĩ. Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn miếu Quốc tử Giám xuất bản

5.Viện nghiên cứu Hán Nôm, Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phúc 2008, Văn miếu và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc (kỷ yếu hội thảo khoa học). Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phúc xuất bản.

6. Phan Huy Chú 1960, Lịch triều hiến chương loại chí tập 1. Nxb sử học, Hà Nội. 1960.

 

 


[1] Viện nghiên cứu Hán Nôm, Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phúc 2008, Văn miếu và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc (kỷ yếu hội thảo khoa học). Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phúc xuất bản. Vĩnh Phúc, tr.73-74.

[2] Phan Huy Chú 1960, Lịch triều hiến chương loại chí tập 1. Nxb sử học, Hà Nội. 1960.

[3] Đại Việt sử ký toàn thư tập IV, Nxb Khoa học xã hội. H.1968.tr 219.

[4] Ngô Đức Thọ (chủ biên) 2007, Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia tiến sĩ. Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn miếu Quốc tử Giám xuất bản,  tr.232.

[5] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi 2006. Các nhà khoa bảng Việt nam 1075-1919. NXB văn học, Hà Nội, tr.450

[6] Chúc thư giao khám hiện trạng gia phả hành trạng công thần, tr.130.

[7] Chúc thư giao khám hiện trạng gia phả hành trạng công thần, tr.138-140.

[8] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi 2006. Các nhà khoa bảng Việt nam 1075-1919. Nxb văn học, Hà Nội, tr.450

[9] Đại việt sử ký toàn thư tập IV, Nxb Khoa học xã hội. H, 1968. tr 238-239.

[10] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi. Các nhà khoa bảng Việt nam 1075-1919. Nxb văn học, Hà Nội, tr.467

[11] Ngô Đức Thọ (chủ biên) 2007. Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia tiến sĩ. Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn miếu Quốc tử Giám xuất bản, tr.227-228.

[12] Chúc thư giao khám hiện trạng gia phả hành trạng công thần, tr.66-67.

Nguyễn Quốc Minh- Trung tâm Văn hóa khoa học Văn miếu Vĩnh Phúc

 

 

Các tin đã đưa ngày: