NHỮNG NGƯỜI CON ƯU TÚ VÙNG ĐẤT VĨNH YÊN TRƯỚC KHI THÀNH LẬP ĐẢNG

07/10/2016

Vĩnh Yên, vùng đất trung tâm của tỉnh Vĩnh Phúc với địa hình có đủ núi sông, đồi hồ vô cùng đẹp đẽ và thơ mộng của vùng non nước hữu tình. Trên mảnh đất này đã sinh ra những người con tài năng đức độ đã đóng góp vào công cuộc bảo vệ nền độc lập và phát triển của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Ngay trong cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc chống lại nền đô hộ của các triều triều đại phong kiến phương Bắc - Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43), Vĩnh Yên đã có những người con tham gia cuộc khởi nghĩa này. Tại đền thờ ở xã Thanh Trù trong tập thư phả có ghi tên 7 người con gái có công trong cuộc khởi nghĩa này đó là: Thái trưởng Quốc công công chúa, Quốc cậu đại thần đại vương công chúa, Cậu An Bình Lý công chúa, Vua A công nương đại vương công chúa, Cổ tích công chúa đại thần đại vương và Cậu An Bình Lý Hắc y đại vương công chúa.

Phía sau đền đức Bà có ngôi mộ rất to, tương truyền do xác chết trên đầm Vạc trôi dạt vào, mối đùn lên thành mộ, gọi là "Mộ đức Bà". Trong đền Đức Bà có các câu đối nói lên phần nào công trạng của các bà:

Oanh liệt nhất trường Trưng triều hiển thánh

Huân cao vạn cổ Bạc trạch linh từ.

Nghĩa là:

Một trường oanh liệt triều Trưng hiển thánh

Công cao vạn thuở, đầm Bạc (Vạc) đền thiêng.

Hay:

Nộ khí đảo sơn hà anh phong vạn cổ

Tinh trung quán nhật nguyệt tiết nghĩa nhất môn.

Nghĩa là:

Căm giận làm thay đổi non sông, anh hùng muôn thuở

Tấm lòng trung một nhà tiết nghĩa, xuyên suốt mặt trời, mặt trăng.

Hay:

Địch khái thử tấm lòng, Trưng kỷ anh hùng truyền thất tộ

Tế dân cộng lợi phổ Bạc trạch linh miếu lịch đa niên.

Nghĩa là:

Cùng một lòng căm giận chống giặc, anh hùng triều Trưng có 7 vị

Đưa dân đến nơi cùng có lợi, miếu thiêng đầm Bạc (Vạc) trải đã nhiều năm.

Để tưởng nhớ công lao của các Bà, người dân Thanh Trù đã tổ chức cúng tế hàng năm. Trong một năm có 2 ngày lễ hội là ngày mùng 8 tháng Giêng và ngày 14 tháng 10. Trong ngày 14 tháng 10 có tiệc "sát ngưu hiến tế'. Việc này được thực hiện theo truyền thuyết, sau khi hy sinh sác bà "Trinh Uyển" theo dòng sông trôi vào đầm Bạc, dạt vào bờ, mối đùn lên thành mộ. Có con trâu đực trong làng thấy có ngôi mả mới, đến húc. Dân làng từ đó không yên, mới lập đền thờ cúng ở nơi có ngôi mộ và hàng năm giết trâu để hiến tế. Trâu hiến tế được chọn nuôi cẩn thận từ 2 tuần trước và chọn người để nuôi. Ngày lễ hội trâu được dắt đi 3 vòng quanh đền, cả làng xông vào đánh đập "hành tội" con trâu. Sau đó họ dùng thòng lọng buộc vào cổ trâu, kéo lên hạ xuống 3 lần, rồi mới tiến hành giết trâu. Thịt trâu (nguyên cả con) dùng tế thần sau đó cả làng cùng hưởng.

Vào triều Trần, một triều đại nổi tiếng trong lịch sử dân tộc với 3 lần kháng chiến đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông, Vĩnh Yên đã có sự đóng góp trong thắng lợi của cuộc kháng chiến này đó là 7 anh em họ Lỗ.

Tháng 12 năm Đinh Tị (1257), tướng giặc Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai dẫn quân từ Vân Nam theo dòng sông Hồng tiến đánh nước ta. Vua Trần Thái Tông đã cử Trần Quốc Tuấn (lúc đó 25 tuổi) đưa quân lên mạn biên giới án ngữ địch, mặt khác tổ chức phòng ngự ở Bình Lệ Nguyên. Bảy anh em họ Lỗ đã nhập vào đoàn quân cứu nước do Trần Thủ Độ chỉ huy và đều được phong chức tướng quân.

Ngày 12 tháng 12 năm 1257, các cánh quân của địch sau khi gặp nhau ở Bạch Hạc đã giao chiến ác liệt với quân Trần ở Bình Lệ Nguyên thực hiện âm mưu bắt sống vua Trần. Vua Trần Thái Tông tự thân đốc chiến, xông pha tên đạn. Bảy anh em họ Lỗ khi đó đang đón đánh địch ở nơi khác đã vội đem quân ứng cứu, sau đó được lệnh đóng quân ở Tam Dương ngăn cản quân địch.

Ngày mùng 2 Tết năm Mậu Ngọ (1258), 7 anh em vâng lệnh vua đem 1 vạn quân tinh nhuệ ra trận giết giặc. Đêm hôm đó, họ làm lễ thề ước, tuyển mộ thêm quân sĩ ở quê hương là các xã Bồ Lí, Hữu Thủ. Sáng ngày mùng 3, họ đưa quân qua xã Nhân Ngoại huyện Tam Dương đã được nhân dân tưng bừng đón tiếp, mổ lợn khao quân. Nhưng cỗ chưa làm xong thì được tin cấp báo quân giặc đang tiến đến gần, 7 anh em vội lệnh cho quân sĩ dùng thịt lợn chưa nấu chín, dùng tiết lợn xoa lên trán để tỏ lòng quyết chiến tới cùng. Trận chiến đã diễn ra quyết liệt, 7 anh em cùng quân sĩ đã giết nhiều giặc lập được công lớn. 

Sau khi đất nước sạch bóng thù, 7 anh em đều được vua Trần ban thưởng rất hậu. Sáu người anh được phong tước Đại vương, còn người em gái út được phong tước hiệu Đô dũng thống chế Đại vương đại tướng quân và phong đất ngụ lộc ở vùng Đinh Sơn (núi Đanh) nên gọi là Thất vị Lỗ Đinh Sơn.

Về sau, cả bảy anh em đều hoá ở núi đanh. Tuy ngày hoá có khác nhau, nhưng triều đình cho lấy ngày mùng 4 tháng Giêng là ngày cúng giỗ chung. Các triều đại phong kiến đều có sắc phong cho 7 anh em và nhà Lê đã đưa vào mục sơn thần của đất nước để tôn thờ. Qua những công lao đối với đất nước, nên 7 anh em họ Lỗ đã được nhân dân nhiều làng quê trong tỉnh thờ cúng. Trong đó đền thờ chính được thờ ở phường Tích Sơn thị xã Vĩnh Yên cùng các làng xã khác quanh vùng núi Đanh ngày nay. Trong các làng xã này, trong ngày tế lễ có diễn ra lễ hội in đậm dấu ấn một thời chinh chiến với hèm tục cúng lễ bằng sinh huyết (tiết sống), sinh nhục (thịt sống), lệ tục kéo cờ, kéo dây, đánh gậy làm sống lại khí thế ngày ra quân giết giặc của 7 anh em họ Lỗ ngày nào.

Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Đại Viêt bước vào giai đoạn khủng hoảng, quan lại tham nhũng, thế khoá nặng nề trong khi đó ở địa phương bọn cường hào ra sức cướp đoạt ruộng đất công, tư. Vì vậy nạn đói liên tiếp diễn ra nhất là ở Đàng ngoài. Không chịu nổi cảnh cùng cựu đó, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân chống lại địa chủ cường hào ác bá  đã nổ ra. Đến giữa thế kỷ XVIII thì quy tụ thành những cuộc khởi nghĩa nông dân lớn chống lại triều đình như khởi nghĩa Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ; khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật. Trong đó ở Vĩnh Phúc có khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương. Nguyễn Danh Phương người xóm Tiên Sơn, phường Hội Hợp, thị xã Vĩnh Yên. ông là con nhà nghèo, thủa nhỏ thường đi chăn trâu đánh trận ở ngoài đồng. Trong một lần cưỡi trâu xung trận ông bị ngã thọt 1 chân, nên khi ông xướng nghĩa nổi lên, cả triều đình lẫn trong dân gian đều gọi ông bằng tên tục "Giặc thằng què". Cũng gọi là "Quận hẻo" vì ông xây dựng căn cứ ở vùng hẻo lánh. Lớn lên ông được học hành, vì căm ghét chính quyền họ Trịnh, năm 1740 ông tham gia cuộc khởi nghĩa của Đỗ Tế và Bồng. Đến khi Tế và Bồng bị hại, ông tập hợp tàn quân được vài vạn người chiếm cứ Việt Trì rồi về xây dựng căn cứ ở núi Độc Tôn, Ngọc Bội thuộc dãy Tam Đảo và các vùng lân cận như Tam Dương,  Lập Thạch, Bình Xuyên, Yên Lạc và cả bên Thái Nguyên.

Nguyễn Danh Phương đã dựng cờ, tự xưng danh hiệu là Thuận thiên khải vận đại nhân, cho xây dựng cung điện, đặt quan thuôùc, xe cộ như một triều đình. ông còn cho đặt thêm nhiều đồn luỹ, như Trung đồn ở Hương Canh, Ngoại đồn ở ức Kỳ (Đại Từ - Thái Nguyên) và nhiều đồn luỹ nhỏ khắp các huyện trong tỉnh và cả ở Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên. Nghĩa quân đóng ở đâu đều làm ruộng, chứa thóc ở đó. Ngoài ra nghĩa quân còn nắm lấy các nguồn lợi về chè, gỗ, sơn, hầm mỏ để phục vụ cho xây dựng, chế tạo vũ khí, quân nhu, chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Trong nhiều năm, nghĩa quân hầu như làm chủ cả vùng và đánh bại mọi cuộc tấn công lẻ tẻ của triều đình.

Tháng 2 năm Tân mùi (1751), chúa Trịnh Doanh đã tập trung lực lượng tấn công lên vùng đất của Nguyễn Danh Phương. Các tướng Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Nghiễm, Đoàn Chú được cử coi quân. Quân triều đình tiến theo đường Thái Nguyên đánh trước vào đồn ức Kỳ, rồi đánh sang đồn Hương Canh. Sau cuộc chiến quyết liệt, đồn Hương Canh bị phá, nghĩa quân lui về giữ đại đồn Ngọc Bội. Cuối cùng đồn Ngọc Bội cũng bị quân triều đình phá vỡ. Danh Phương bỏ chạy vào núi Độc Tôn. Tuy nhiên trước sức mạnh của quân triều đình, ông đã chống cự không nổi, tự đốt doanh luỹ, rồi dựa vào đêm tối thoát khỏi vòng vây. Khi chạy đến xã Tĩnh Luyện (nay là xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương) thì bị bắt và bị đóng cũi giải về kinh đô và bị giết cùng ngày với Quận He Nguyễn Hữu Cầu.

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương kéo dài suốt 11 năm, địa bàn lan rộng khắp Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận đã cho thấy cuộc khởi nghĩa đã nhận được sự ủng hộ to lớn của những nông dân nghèo trong vùng. Tuy nhiên, đối với triều đình phong kiến và những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo thì ông chỉ là "giặc". Chính vì vậy nên các làng xã ở Vĩnh Phúc không có làng nào tôn thờ ông, kể cả Tiên Sơn quê hương ông.

Trong số những người con được ghi tên tuổi vào lịch sử chế độ khoa cử Việt Nam, thị xã Vĩnh Yên có đóng góp 3 người đó là: Dương Đức Giản, Trần Trạch và Dương Tông.

Dương Đức Giản (chưa rõ năm sinh, năm mất), người thôn Vinh Quang xã Khai Quang, thi đỗ Đệ nhị giáp tiên sĩ xuất thân khoa ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất, đời vua Lê Uy Mục (1505). ông làm quan chức Đô cấp sự  trung Lại khoa, hàm chánh thất phẩm. Cuối đời ông về chí sĩ.

Trần Trạch (1544 - ?), người thôn Tiên Hội phường Hội Hợp thi đỗ tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4 đời vua Lê Uy Mục (1509). ông làm quan chức Hữu thị lang, hàm tòng nhất phẩm.

Dương Tông (1544 - ?), người thôn Vinh Quang xã Khai Quang là cháu nội của Tiến sĩ Dương Đức Giản. ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hưng Trị năm thứ 2 (1589) đời vua Mạc Mậu Hợp. ông làm quan cuối thời nhà Mạc, khi nhà Mạc thất bại, ông theo về với nhà Lê, được nhà Lê trọng dụng làm quan tới chức Thị lang, hàm tòng tam phẩm. ông cũng là người đỗ đạt cuối cùng trong khoa bảng của tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ nhà Mạc và cũng là người cuối cùng trong khoa cử của thị xã Vĩnh Yên, trong chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam.

Trong lịch sử phát triển của mình, mặc dù không có nhiều các nhà khoa bảng nổi danh như một số huyện khác trong tỉnh, nhưng Vĩnh Yên có thể tự hào là vùng đất có đủ các danh tướng trong công cuộc đấu tranh khôi phục và bảo vệ nền độc lập cho dân tộc; thủ lĩnh của khởi nghĩa nông dân chống lại áp bức bóc lột của chế độ phong kiến trong thời kỳ suy vong  và cả những người con nổi danh qua con đường khoa cử và chốn quan trường trong lịch sử dân tộc. Với truyền thống của cha ông để lại, những người con của Vĩnh Yên ngày nay đang nỗ lực phấn đấu để xây dựng Vĩnh Yên không chỉ trở thành một thành phố của tỉnh Vĩnh Phúc mà còn là trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng địa đầu trung du Bắc Bộ.

Tạp chí Văn hóa Vĩnh Phúc - Giấy phép xuất bản số 72/XB-VH tháng 12 năm 2006

Các tin đã đưa ngày: