NGUYỄN THÁI HỌC VÀ HUYỀN THOẠI Về LÒNG YÊU NƯỚC

03/07/2019

Mourir pour sa patrie

C’est le sort le plus beau

Le plus digne…

D’en vie…

(Chết vì tổ quốc

Chết vinh quang

Lòng ta sung sướng

Trí ta nhẹ nhàng…)

Đó là bốn câu thơ bằng tiếng Pháp và Nguyễn Thái Học ung dung đọc tại pháp trường trước khi bị Pháp xử chém vào ngày 17 tháng 6 năm 1930 cùng 12 chiến hữu Khởi nghĩa Yên Bái. Một tờ báo lớn của Pháp thời bấy giờ, tờ Paris buổi chiều, đã đăng bài tường thuật rất tỉ mỉ về cuộc hành hình các chiến sĩ khởi nghĩa Yên Bái, cuộc hành hình mà những thanh niên Việt Nam yêu nước đã mỉm cười trước cái chết và cùng hô “Việt Nam vạn tuế”. Tác giả bài báo viết: “Trong đời phóng viên; tôi chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng hào hùng như thế. Những tiếng hô của họ khiến tôi có niềm tin gần như mê tín vào chủ nghĩa ái quốc của họ”.

Cảm kích trước tấm gương hy sinh vì nước của Nguyễn Thái Học và các đồng chí, đại thi hào người Pháp Louis Aragon đã có một bài thơ nổi tiếng về khởi nghĩa Yên Bái với câu thơ bất hủ: “Yên Bái, đây là điều nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ”. Ở nước Pháp thì như thế. Còn ở Việt Nam, cái chết bất khuất của Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Việt Nam Quốc dân Đảng ưu tú trong nhà tù cũng như trên đoạn đầu đài Yên Bái đã gây xúc động lớn trong lòng đồng bào toàn quốc từ Bắc chí Nam. Chí sĩ Phan Bội Châu đã có tới 6 bài thơ và 2 bài Văn tế dành cho Nguyễn Thái Học và vị hôn thê đồng chí chung thủy của ông là bà Nguyễn Thị Giang. Rất nhiều bài vè bài thơ khuyết danh về tấm gương của Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Yên Bái xuất hiện và nhanh chóng lưu truyền.

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái tuy thất bại nhưng thực sự là một dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trước khi có Đảng. Tấm gương hy sinh bất khuất của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, Nguyễn Thị Giang và các đồng chí của mình đã trở thành huyền thoại về lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam, động viên, cổ vũ mạnh mẽ các thế hệ thanh niên yêu nước sau này trong cuộc đấu tranh gian khổ, ác liệt lâu dài vì độc lập và tự do của tổ quốc.

Nguyễn Thái Học sinh năm 1901, quê ở làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, Vĩnh Yên nay là thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Thuở nhỏ, khi học chữ Hán ở quê, được biết về cuộc binh biến Thái Nguyên của ông Đội Cấn, Nguyễn Thái Học đã nuôi ý chí phục quốc theo gương người đồng hương Vĩnh Tường của ông. Lớn lên, Nguyễn Thái Học được gia đình cho theo học trường phổ thông Pháp - Việt tại Vĩnh Yên sau đó thi đỗ vào Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm, Nguyễn Thái Học xin vào học Trường Cao Đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương.

Trong thời gian ấy ở nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện chấn động của phong trào yêu nước. Đó là những bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn và tờ báo La Cloche fêlée (Chuông rè) đầy tính phản kháng của ông. Đó là tiếng bom của Phạm Hồng Thái mưu sát toàn quyền Đông Dương. Đó là sự kiện mật thám Pháp bí mật bắt cóc Phan Bội Châu tại Thượng Hải đưa về giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), định bí mật thủ tiêu, lập tức một phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước đã bùng nổ, khiến thực dân Pháp phải đưa cụ Phan ra xét xử công khai và cuối cùng, phải ân xá nhà yêu nước lão thành này. Rồi sự kiện Phan Chu Trinh, một lãnh tụ lớn khác của phong trào yêu nước, trở về nước sau nhiều năm lưu trú ở Pháp và chết tại Sài Gòn đã dấy lên phong trào để tang ông trên toàn quốc.

Cũng trong những năm tháng này cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc với học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn cũng dội mạnh vào Việt Nam. Đặc biệt, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về tới Quảng Châu (Trung Quốc) liên lạc với nhóm thanh niên Việt Nam yêu nước trong tổ chức Tâm Tâm xã và lập ra Hội Việt Nam Kách mệnh Thanh niên, ra tờ báo Thanh niên kêu gọi thanh niên trí thức yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân đấu tranh đập tan gông xiềng nô lệ thực dân, giải phóng dân tộc.

Trong làn sóng yêu nước đang dâng lên trong cả nước, ngay khi đang là sinh viên Đại học Đông Dương, cuối năm 1926, Nguyễn Thái Học đã cùng với Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài, Hồ Văn Mịch... lập ra Nam Đồng thư xã ở Hà Nội, Nam Đồng thư xã vừa giống như một nhà xuất bản, một hiệu sách, tập trung vào việc biên soạn, dịch thuật, phát hành sách báo phổ biến các tư tưởng cách mạng, đặc biệt là tư tưởng Tôn Trung Sơn, ca ngợi các tấm gương nghĩa liệt, những anh hùng cứu quốc, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp. Cũng trong thời gian là sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varrenne một số bức thư kêu gọi chính quyền thực dân Pháp tiến hành các cải cách tiến bộ ở Việt Nam. Sở dĩ Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varrenne vì  ông ta vốn là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp, người đã quyết định ân xá Phan Bội Châu và hứa hẹn nhiều cải cách rộng lớn ở xứ thuộc địa Đông Dương. Tuy nhiên, đây chỉ là hành động mị dân và những bức thư đầy tâm huyết của Nguyễn Thái Học đã không được Varrenne trả lời.

Hoàn toàn thất vọng với chủ trương Pháp Việt đề huề, Nguyễn Thái Học ý thức rõ: con đường duy nhất của dân tộc chỉ có thể là con đường dùng vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp, sau đó tự mình tiến hành công cuộc cải cách, kiến thiết đất nước. Nguyễn Thái Học quyết định thôi học để cùng nhóm Nam Đông thư xã khẩn trương chuẩn bị để lập ra một tổ chức yêu nước bí mật.

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 24.12.1927 một hội nghị được tổ chức tại Hà Nội với nòng cốt nhóm Nam Đồng thư xã, đã quyết định lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng và Nguyễn Thái Học được bầu làm đảng trưởng với cương lĩnh hành động là: “Liên lạc anh em, đồng chí không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dùng võ lực để lấy lại quyền độc lập cho nước Việt Nam, lập một chính thể hòa theo chủ nghĩa dân chủ xã hội”.

Sau khi thành lập, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thái Học, Việt Nam Quốc dân Đảng đẩy mạnh xây dựng và phát triển cơ sở trên cả nước, nhất là ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Đảng đã sáp nhập thêm tổ chức Việt Nam dân quốc ở Bắc Giang do Nguyễn Khắc Nhu đứng đầu. Gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng còn có thêm các nhóm nhân sĩ và trí thức yêu nước như nhóm ở Bắc Ninh của Nguyễn Thế Nghiệp, nhóm ở Thanh Hóa của Hoàng Văn Đào, nhóm ở Thái Bình của Hà Đình Điển và nhóm ở Sài Gòn của Trần Huy Liệu. Cơ sở tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng phát triển tương đối nhanh trong năm 1928 và đầu năm 1929 đã có trên 120 chi bộ trong cả nước, thu hút hàng nghìn thanh niên trí thức, công chức và binh lính Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp tham gia. Việt Nam Quốc dân Đảng cũng cử người bắt liên lạc với Hội Việt Nam Kách mệnh Thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng để bàn thảo việc thống nhất về tổ chức và phối hợp hoạt động vì mục đích giải phóng dân tộc. Có thể nói, cho đến năm 1930, Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học là tổ chức chính trị yêu nước tiến bộ lớn nhất ở nước ta, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Khi tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng đang phát triển đầy hy vọng thì ngày 9.2.1929, một số đảng viên ở Hà Nội đã tổ chức ám sát trùm mộ phu đồn điền Bazin khiến cho chính quyền thực dân Pháp có cớ mở một chiến dịch đàn áp, truy quét điên cuồng tổ chức yêu nước cách mạng này. Các cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng bị đánh phá nghiêm trọng, hàng trăm đảng viên bị bắt tù đày, bị giết. Riêng Nguyễn Thái Học, lãnh tụ đảng, thực dân Pháp treo giải thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương cho ai bắt hoặc giết được ông. Thấy trước nguy cơ tan rã về tổ chức, thiệt hại về con người, tại Hội nghị lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng ngày 1/7/1929, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính và Đoàn Trần Nghiệp đã quyết định gấp rút tiến hành một cuộc “tổng khởi nghĩa vũ trang” trên nhiều địa phương ở đồng bằng và trung du miền Bắc để cổ vũ lòng yêu nước trong dân chúng, tỏ rõ chí khí của đảng và nếu có thất bại thì “Không thành công cũng thành nhân”.

Được tin Việt Nam Quốc dân Đảng nỗ lực chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang trong điều kiện khách quan chưa chín muồi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, khi đó đang hoạt động ở Bắc Thái Lan lập tức lên đường đi về nam Trung Quốc để mong bắt liên lạc, khuyên Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc dân Đảng hoãn cuộc bạo động lại, nhưng không kịp.

Theo kế hoạch ban đầu cuộc khởi nghĩa sẽ nổ ra trên hai địa bàn chính ở Bắc Kỳ vào đêm 9.2.1930. Nguyễn Thái Học sữ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở miền xuôi, trong khi Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính được phân công chỉ huy cuộc nổi dậy ở trung du, miền núi, Đoàn Trần Nghiệp tổ chức đánh bom quấy phá tại Hà Nội. Gần tới ngày nổi dậy, do cơ sở ở miền xuôi tương đối yếu lại bị đánh phá nặng nề nên không chuẩn bị kịp, Nguyễn Thái Học cử người báo cho Nguyễn Khắc Nhu hoẵn cuộc nổi dậy tới ngày 15.2. Tuy nhiên, liên lạc viên lại bị địch bắt giữa đường. Vì vậy, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra ở một loạt các địa điểm từ Sơn Tây, Phú Thọ cho tới Yên Bái vào đêm ngày 9, rạng sáng ngày 10.2.1930. Quyết liệt nhất là cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái. Quân nổi dậy đã chiếm được một phần đồn binh Pháp và làm chủ tỉnh lỵ Yên Bái, khởi nghĩa Yên Bái đã nhanh chóng bị thực dân Pháp dập tắt. Tuy vậy, ngày 15.2.1930, Nguyễn Thái Học vẫn quyết định khởi nghĩa ở miền xuôi như kế hoạch cũ, quyết liệt nhất là ở Phụ Dực (Thái Bình) và Vĩnh Bảo (lúc dó thuộc Hải Dương).

Thực dân Pháp quyết định tung toàn bộ lực lượng ra đàn áp quân khởi nghĩa. Chúng cho 5 máy bay đến ném bom triệt hạ làng Cổ Am, căn cứ của Việt Nam Quốc dân Đảng trong cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Bảo. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chính quyền thực dân của một cường quốc phương Tây phải sử dụng tới máy bay chiến đấu để đàn áp một cuộc nổi dậy của dân chúng bản xứ.

Ngày 20.2.1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt (Chí Linh, Hải Dương). Theo tài liệu của mật thám Pháp có đến hơn 3000 người liên quan đến Nguyễn Thái Học và cuộc khởi nghĩa bị bắt. Trong hai năm 1929, 1930, thực dân Pháp đã mở rất nhiều phiên tòa tại Hà Nội, Yên Bái và các tỉnh Bắc Kỳ khác với kết quả là rất nhiều án tù, trong đó có hàng trăm án tù chung thân và tử hình.

Vụ án Nguyễn Thái Học và khởi nghĩa Yên Bái đã trở thành một vụ án rất lớn, kéo dài, gây chấn động dư luận xã hội Việt Nam và Pháp trong hai năm 1929-1930 và cả những năm sau đó. Thái độ bình tĩnh hiên ngang, dõng dạc tuyên bố mục đích chống xâm lược giải phóng đất nước và sẵn sàng chấp nhận hy sinh của Nguyễn Thái Học và các chiến hữu trẻ tuổi trong các phiên tòa, đặc biệt là trước lưỡi máy chém trên pháp trường Yên Bái ngày 17.6.1930, ngày thực dân Pháp hành quyết Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ khác của Việt Nam Quốc dân Đảnh đã được người dân Việt Nam yêu nước mãi mãi ghi nhớ. Đó là một ngày lịch sử của cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc khi trên pháp trường, Nguyễn Thái Học và các chiến hữu đã ngạo nghễ đi vào cái chết để cho cả nước Pháp, bạn bè thế giới biết rằng máy chém đã hoàn toàn bất lực trước tinh thần yêu nước bất diệt của người Việt Nam.

Ngay sau cái chết anh hùng của Nguyễn Thái Học và các đồng chí, dư luận lại chấn động với cái chết bi thương của Nguyễn Thị Giang, người đồng chí và vị hôn thê của Nguyễn Thái Học. Nguyễn Thị Giang, thường gọi là Cô Giang, sinh vào khoảng năm 1906, quê tại Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Bà là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng thuộc chi bộ Bắc Giang của Nguyễn Khắc Nhu cùng với hai  người em là Nguyễn Thị Bắc (cô Bắc) và Nguyễn Tĩnh. Năm 1929, bà gặp Nguyễn Thái Học, hai người yêu nhau, bà trở thành  thân tín của Nguyễn Thái Học với cương vị tổng thư ký của đảng. Trong cuộc tổng khởi nghĩa bà cùng em mình là Cô Bắc được cử phụ trách việc tuyên truyền, làm binh vận và liên lạc, vận chuyển vũ khí giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Lâm Thao, Hưng Hóa, Yên Bái... Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị bắt, trong đó có cả Cô Bắc, đưa về giam ở Hỏa Lò, Hà Nội, bà Nguyễn Thị Giang đã nghĩ đến kế hoạch táo bạo là tấn công nhà tù để giải thoát cho họ. Kế hoạch chưa kịp thực hiên, thì ngày 16 tháng 6 năm 1930, nghe tin nhà cầm quyền Pháp đã đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của ông từ Hà Nội lên Yên Bái, để xử chém vào ngày hôm sau, bà đã lên tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh dũng của hôn phu và các đồng chí. Ngay sau khi cuộc hành hình kết thúc, bà Nguyễn Thị Giang về nhà trọ, viết hai bức thư và một bài thơ tuyệt  mệnh. Bức thư gửi cha mẹ viết: “Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng. Giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con”. Bức thư gởi hương hồn Nguyễn Thái Học viết: “Anh đã là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu quốc, Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào  đau khổ!”. Viết xong thư và thơ, bà Giang đáp tàu hỏa về Vĩnh Yên, quê Nguyễn Thái Học, ngay buổi chiều tối 17/6/1930. Sáng ngày 18/6/1930, bà về làng ThổTang để lạy tạ cha mẹ chồng và từ giã mọi người. Sau đó, bên một gốc đề ở làng Đông Vệ, cách Thổ Tang ước chừng một cây số, bà Nguyễn Thị Giang đã tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng trong đám cưới bí mật của họ ở đền vua Hùng. Trên mộ Nguyễn Thị Giang được người dân Vĩnh Tường lập sau này có ghi hai câu thơ tuyệt mệnh của bà “Đảng kỳ phất phới trên thành/ Tủi thân không được chết vinh dưới cờ”.

86 năm qua, tên tuổi, tinh thần yêu nước bất khuất, tình đồng chí và tình yêu chung thủy cao cả của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, Nguyễn Thị Giang... vẫn được các thế hệ người Việt Nam tự hào truyền tụng như một huyền thoại của lòng yêu nước của người Việt Nam. Tên của họ đã được đặt cho nhiều đường phố ở thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn của cả nước.

Tại Thành phố Yên Bái, một khu di tích lịch sử tưởng niệm Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Khởi nghĩa Yên Bái rất lớn đã được xây dựng nhân kỷ niệm 70 năm ngày họ hy sinh (17/6/2000). Ở Vĩnh Phúc, năm 2003, một hội thảo khoa học do Viện sử học Việt Nam và tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức ở quê hương Thổ Tang đã tôn vinh Nguyễn Thái Học là anh hùng dân tộc và kế hoạch xây dựng đền thờ ông tại quê hương mình được hình thành. Tuy vậy, cho đến nay, theo lãnh đạo Phòng Văn hóa, Thể thao huyện Vĩnh Tường, vì nhiều lý do, Đền thờ này vẫn nằm trên giấy. Riêng với bà Nguyễn Thị Giang, dù tên bà đã được đặt cho một trường Trung  học ở Vĩnh Tường, nhưng ngôi mộ bà nằm ở xã Tân Tiến vẫn như ngôi mộ hoang giữa đồng, mấy chục năm nay vẫn chưa hề được đầu tư tôn tạo hay công nhận di tích. Phải chăng, dầu bất cứ lý do gì, việc chưa có một đền thờ Nguyễn Thái Học tại một địa phương nổi tiếng giàu có như Thổ Tang, Vĩnh Tường và Vĩnh Phúc và việc vô tâm với ngôi mộ thiêng của nữ anh hùng Nguyễn Thị Giang vẫn là một lỗi lớn của hậu thế quê hương ông.

 

PGS.TS Trần Đức Cường

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: