Địa hình

01/08/2013

Địa hình Vĩnh Phúc được tạo thành bởi kết quả hoạt động tổng hợp từ các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh cùng với tác động của con người như đắp đê ngăn nước, đắp đập, phá rừng làm nương rẫy…
Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình chính: Địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng.

Địa hình miền núi
Theo nguồn gốc hình thành và độ cao, địa hình miền núi Vĩnh Phúc chia làm 3 loại:

Loại địa hình núi lửa: Chủ yếu thuộc dãy núi Tam Đảo. Trong đó, phần thuộc địa phận Vĩnh Phúc bắt đầu từ xã Đạo Trù (Lập Thạch) đến xã Ngọc Thanh (Mê Linh) có chiều dài trên 30 km, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình phân cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m. Cao nhất là đỉnh núi Giữa (1542m), đỉnh Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị đều cao trên dưới 1.400m nổi lên như 3 hòn đảo.

Địa hình núi thấp: Đại diện cho loại địa hình này là núi Sáng, thuộc địa phận hai xã Đồng Quế, Lãng Công (Lập Thạch) cao 633m, một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn. Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục km2. Đó là những núi cấu tạo bằng đá cứng, phong hoá chậm như quaczit, amphibolit có hình núi nhọn và cao trội hơn như núi Kim Tôn, núi Bầu ở Đồng Quế, Lãng Công (Lập Thạch). Ngoài ra còn những núi cấu tạo bằng đá dễ bị phong hoá như gơnaibiotit, gơnai 2 mica và granit, kết hợp với hoạt động đứt gãy nên núi có hình bằng đi, thấp xuống, có khi kéo dào theo phương đứt gãy như núi Ngang vùng Đạo Trù, Hợp Lý, các núi ở Bắc Bình, Quang Sơn (Lập Thạch), Đại Đình (Tam Đảo).

Địa hình núi sót: Gồm núi Đinh, núi Trống, núi Thanh Tước, nằm theo một trục trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và huyện Mê Linh. Đây là một trục của nếp lồi khu vực có phương Tây Bắc - Đông Nam. Các núi đều cấu tạo bởi các đá của hệ tầng sông Hồng, giới Proterozoi.
Vĩnh Phúc còn có một dạng địa hình núi kéo dài theo đứt gãy trẻ (thành tạo vào chu kỳ tạo núi An - pi); thường nằm ở ven rìa đứt gãy và trùng với phương đứt gãy; cấu tạo bằng các đá cuội kết cơ sở và răm kết kiến tạo.
Chiều dài của núi có thể tới vài ki lô mét, chiều rộng vài trăm mét như các núi Phù Mây (Đại Đình, Tam Dương), núi Thằn Lằn (Mê Linh), các núi dạng đồi ở vùng Đạo Tú (Tam Dương), vùng Tiên Lữ (Lập Thạch) với độ cao chỉ khoảng 50 - 70m.

Địa hình vùng đồi

Ở Vĩnh Phúc huyện nào cũng có đồi. Có nhiều đồi nhất là hai huyện Lập Thạch và Tam Dương. Các huyện đồng bằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc còn sót lại một ít đồi gò như đồi Me, gò Đồng Đậu. Đồi ở Vĩnh Phúc như bát úp, kích thước không lớn, có dạng vòm đường nét mềm mại. Đồi ở vùng đồng bằng chỉ cao từ 20 - 50m, ở vùng trung du cao từ 50 - 200m.
Đồi xâm thực bóc mòn: Do các quá trình phân cắt và bào mòn bởi nước trên mặt đất ở những miền núi cấu trúc dương được nâng yếu, gồm toàn bộ những đồi ở vùng núi Sáng (Lập Thạch) vùng từ Tam Dương đến Mê Linh và khu vực thị xã Vĩnh Yên.

Tác dụng xâm thực là sự kết hợp đồng thời của các quá trình phá huỷ các đá có tính chất cơ học của dòng chảy và quá trình bào phá lòng bởi chính dòng chảy cùng với quá trình hoà tan các đá theo phương thức hoá học. Xâm thực bề mặt còn gọi là rửa trôi bề mặt hay bóc mòn là kết quả tương hỗ tác động của nước mưa, nước tuyết tan chảy tràn trên mặt và các dòng chảy nhỏ đang định vị trên mặt đất. Xâm thực mạnh mẽ ở các sườn đồi, các đường phân thuỷ tương đối bằng, các bồn nước. Sự bào phá của các dòng chảy đã định vị tạo thành những mương, xói, khe, rãnh, suối, sông phân cắt các miền đồi như hình dạng ngày nay. Sự xâm thực này càng rõ ở các vùng đồi cấu tạo bằng các đá phiến giầu nhôm như vùng Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên.

Sản phẩm trên bề mặt vùng đồi Vĩnh Phúc là sản phẩm phong hoá gồm các lớp đất sét nâu đỏ, laterit và các mũ sắt. Nhân dân thường dùng lớp đất sét có latarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung.

Đồi tích tụ: Được hình thành do quá trình tích tụ và xâm thực, phân bố ở các cửa suối lớn trong chân núi Tam Đảo như các suối ở Đạo Trù, Tam Quan, Hợp Châu, Minh Quang (Tam Đảo), Thanh Lanh (Bình Xuyên), Thanh Lộc (Mê Linh). Đồi tích tụ thường có diện tích nhỏ, như một gò nổi giữa sông, suối, cấu tạo chủ yếu là cuội, cát, sỏi, bột, sét và các tảng đá gốc hỗn độn. Hình thái của đồi thường bị dòng nước phạt một bên sườn hoặc cả 2 bên sườn nếu đồi đang ở giữa 2 dòng chảy.
Đồi tích tục bóc mòn: Tạo thành từ đồi tích tụ nhưng bị bóc mòn. Dạng đồi này phổ biến ở ven sông Lô từ Đồng Thịnh, Cao Phong đến Văn Quán, Xuân Lôi, Triệu Đề của huyện Lập Thạch. Đồi có dạng úp hoặc kéo dài, cấu tạo bởi các đá cát kết, sỏi kết, cuội, sỏi, sét, bột có tuổi từ Neogen đến thời kỳ Đệ Tứ, do xâm thực bóc mòn các thềm sông cổ của dòng sông Lô.

Địa hình đồng bằng

Chiếm 40% diện tích toàn tỉnh. Đặc điểm chung là bề mặt tương đối bằng phẳng, có diện tích đáng kể; độ cao tuyệt đối khác nhau tuỳ nơi phân bố của đồng bằng. Độ cao dao động rất nhỏ trong một đồng bằng. Song có chênh lệch về độ cao khá lớn giữa vùng núi và vùng đồng bằng.
Căn cứ vào độ cao tuyệt đối, hình thái, điều kiện thành tạo có thể chia đồng bằng Vĩnh Phúc làm 3 loại: Đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi và các thung lũng, bãi bồi và đầm.

Đồng bằng châu thổ: Là loại đồng bằng tích tụ liên quan đến quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn.
Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc phát triển từ sự bồi tụ của các dòng sông Lô, sông Hồng, sông Phó Đáy và của hệ thống sông suối ngắn từ dãy núi Tam Đảo chảy ra.
Diện tích đồng bằng phân bố trên toàn bộ huyện Yên Lạc, hầu hết huyện Vĩnh Tường, chiếm diện tích lớn ở các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Mê Linh, bề mặt tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía sông Hồng và phía Nam huyện Yên Lạc, Mê Linh. Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc còn có những phân dị:
Vùng phân dị gợn sóng: Tạo nên những dải ruộng dạng sóng theo hướng chính của sông Hồng là Tây Bắc - Đông Nam kéo dài vài kilômét, rộng vài trăm mét, phân bố ở khu vực các xã Đồng Văn (Yên Lạc), Bình Dương, Đại Đồng, Chấn Hưng, Lũng Hoà (Vĩnh Tường).
Vùng phân dị tạo thành những gò, đầm lớn: Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc phát triển trên nền địa chất đồng bằng có nguồn gốc sông, một thời là phù sa bồi lắng, vun đắp từ các dòng sông Lô, sông Hồng, sông Đà và hệ thống sông suối từ vùng núi Tam Đảo.
Đồng bằng châu thổ phì nhiêu đã thu hút con người đến sinh cơ lập nghiệp. Hoạt động của con người cũng đã góp phần làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt đồng bằng so với lúc nguyên sơ. Làng xã, thành phố, thị trấn, đường giao thông, hệ thống đê sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy đã ngăn chặn và giảm thiểu sức tàn phá dữ dội của các dòng sông mùa mưa lũ đối với vùng đồng bằng.

Đồng bằng trước núi (đồng bằng giới hạn)
Được kiến tạo do sự phá huỷ lâu dài của vùng núi, do sự bóc mòn, xâm thực của nước mặt, nước ngầm và nước sông băng: Từ vùng núi cao thành vùng núi thấp, dần thành vùng đồi và sau đó thành vùng đồng bằng có giới hạn vì bao quanh là đồi và núi.
So với đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi kém màu mỡ hơn. Thành phần vật chất phụ thuộc vào cấu tạo đá gốc dưới nền đồng bằng và sự rửa trôi bồi lắng của các vùng đồi, núi xung quanh.

Các thung lũng, bãi bồi sông

Thung lũng sông: Thung lũng sông của Vĩnh Phúc là một dạng địa hình âm, chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, được hình thành chủ yếu do tác động xâm thực của dòng chảy.
Địa hình thung lũng sông Lô chỉ tính ở bờ trái gồm lòng sông và sườn thung lũng. Thung lũng có nhiều bãi bồi xen kẽ nên sườn thung lũng thoai thoải. Chiều rộng tính từ bờ đê ra đường ranh giới có chỗ đến 150m.

Cấu tạo sườn thung lũng là các thềm sông. Thành phần vật chất của thung lũng là cát, sét, cuội sỏi, thạch anh và silic: nguồn tài nguyên đáng kể phục vụ cho xây dựng trong tỉnh, Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Đáng chú ý có thung lũng sông Hồng chỉ tính trên phạm vi huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc đã có chiều dài 40 km. Thung lũng sông Hồng bằng hơn, thoải hơn và rộng hơn thung lũng sông Lô. Chiều rộng từ bờ đê quai của các xã An Tường, Cao Đại ra giữa sông có chỗ đến 300m; trung bình là 150-200m.

Thung lũng sông Hồng có nhiều bãi bồi sông, là nguồn phù sa màu mỡ cung cấp cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng và đưa ra biển Đông bồi lấp hàng năm, mở rộng châu thổ.
Bãi bồi sông: Chủ yếu phân bố ở các thung lũng sông Hồng, sông Lô và sông Phó Đáy.

Dọc các thung lũng của 3 con sông chính của tỉnh có tới vài chục bãi bồi lớn nhỏ. Ở Vĩnh Tường, Yên Lạc bãi bồi có chiều rộng hàng nghìn mét, dài vài kilômét. Bãi bồi sông Lô ở vùng Đức Bác, Sơn Đông (Lập Thạch ) rộng vài trăm mét và dài hàng kilômét

 

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: