Sông ngòi và đầm hồ

01/08/2013

Vĩnh Phúc có một mạng lưới sông, suối khá dày đặc với hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Cà Lồ.

Hệ thống sông Hồng.
Hệ thống sông Hồng gồm sông Hồng với hai nhánh lớn là sông Đà (bờ bên phải), sông Lô (bờ bên trái) cùng với hai nhánh của sông Lô là sông Chảy (Tuyên Quang) và sông Phó Đáy (Vĩnh Phúc).

Sông Lô
Sông Lô chảy vào giang phận Vĩnh Phúc từ xã Quang yên (Lập Thạch) qua xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) đến ngã ba Bạch Hạc thì đổ vào sông Hồng, có chiều dài 34km.
Sông Lô có lưu lượng dòng chảy bình quân (năm 1996) 1.213m3/giây; về mùa mưa lên tới 3.230m3/giây; cao nhất năm 1966 là 6.560m3/giây, đột xuất ngày 20/8/1971, lên tới 14.000 m3/giây. Mực nước lúc cao nhất so với mực nước lúc thấp nhất thường chênh nhau 6m; năm 1971 chênh tới 11,7m; năm 1996, chênh 6,27m.
Hàm lượng phù sa ít hơn sông Hồng. Mùa mưa lũ, 1m3 nước chứa 2,310 kg phù sa. Mùa cạn, nước sông trong xanh, hầu như không mang phù sa.
Phù sa sông Lô lượng ít hơn sông Hồng song giàu chất phù sa hơn; hàng năm vẫn bồi đắp cho ruộng bãi đôi bờ, nhưng diện bồi hẹp hơn và lượng bồi cũng ít hơn sông Hồng. Sông Lô còn tiếp thêm nước cho hệ thống nông giang Liễn Sơn qua trạm bơm Bạch Hạc.

Sông Phó Đáy
Sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch) ở bên bờ phải và xã Yên Dương ở bên bờ trái, chảy giữa huyện Lập Thạch (bên phải) và hai huyện Tam Dương, Vĩnh Tường (bên trái) dài 41,5km, rồi đổ vào sông Lô, giữa xã Sơn Đông (Lập Thạch) và xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) phía trên cầu Việt Trì độ 200m.
Sông Phó Đáy có lưu lượng bình quân 23 m3/giây; lưu lượng cao nhất là 833m3/giây; mùa khô kiệt, lưu lượng chỉ 4m3/giây, có quãng sông cạn tới mức lội qua được.
Sông Phó Đáy cũng có lượng phù sa như sông Lô (2,44kh/m3) nhưng tác dụng nhất ở chỗ cung cấp nước cho hệ thống nông giang Liễn Sơn dài 157km, tưới cho 14.000ha ruộng của các huyện Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Mê Linh.

Sông Hồng
Sông Hồng chảy qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ vào địa phận Vĩnh Phúc từ Ngã Ba Hạc đến xã Tráng Việt (Mê Linh ) dài 41 km.
Thời dựng nước, sông Hồng có tên là sông Văn Lang. Thời Lý - Trần, sông Hồng được gọi là sông Lô. Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV) cũng vậy. Sách An Nam chí nguyên (Q1, Sơn xuyên, Giao châu phủ) chép sông Lô ở huyện Đông Quan (Hà Nội bây giờ) trên tiếp với sông Bạch Hạc, dưới thông với sông Đại Hoàng chảy vào biển. Như thế, sông Lô tức là khúc sông Hồng phía dưới ngã ba Hạc chảy ra biển.
Sông Hồng có lưu lượng dòng chảy trung bình trong cả năm là 3.860m3/giây, lớn gấp 4 lần lưu lượng sông Thao, gấp đôi lưu lượng sông Đà, gấp 3 lưu lượng sông Lô. Lưu lượng dòng chảy thấp nhất về mùa cạn là 1.870m3/giây. Lưu lượng dòng chảy trung bình trong mùa mưa lũ là 8.000m3/giây. Lưu lượng lớn nhất là 18.000m3/giây. Mực nước cao trung bình là 9,75m, hàng năm lên xuống thất thường, nhất là về mùa mưa, có những cơn lũ đột ngột, nước lên nhanh chóng, có khi tới 3m trong vòng 24 giờ. Mực nước đỉnh lũ thường cao hơn mực nước mùa kiệt trên dưới 9m (Trong cơn lũ lịch sử năm 1971, chênh tới 11,68m).
Về mùa khô hanh, hệ thống sông Hồng là nguồn nước quý giá vô tận cho các trạm bơm hút lên tưới cho đồng ruộng đôi bờ. Với hàm lượng phù sa cao, tối đa có thể lên tới 14kg/m3, số lượng phù sa lớn (một năm là 80 triệu m3 hoặc 130 triệu tấn), chất lượng phù sa tốt và nước sông còn chứa nhiều chất khoáng, sông Hồng đã bồi đắp cho Vĩnh Phúc dải đồng bằng phì nhiêu màu mỡ. Hiện nay, sông vẫn tiếp tục bồi phù sa cho đồng bãi ven bờ và ngay cả cho ruộng trong đê qua những con ngòi thông ra sông.

Hệ thống sông Cà Lồ.
Chảy trong nội tỉnh, hệ thống sông Cà Lồ gồm sông Cà Lồ và nhiều nhánh của nó, đáng kể nhất là sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ, suối Cheo Meo…

Sông Phan
Sông Phan bắt nguồn từ núi Tam Đảo, địa phận các xã Hoàng Hoa, Tam Quan, Hợp Châu, chảy qua các xã Duy Phiên, Hoàng Lâu (Tam Dương ), Kim Xá, Yên Lập, Lũng Hoà, Thổ Tang (Vĩnh Tường) theo hướng Đông Bắc - Tây Nam; vòng sang hướng Đông Nam qua các xã Vũ Di, Vân Xuân (Vĩnh Tường) rồi theo hướng Tây Nam - Đông Bắc qua các xã Tề Lỗ, Đồng Văn, Đồng Cương (Yên Lạc) đổ vào đầm Vạc (Vĩnh Yên), qua xã Quất Lưu chảy về Hương Canh (Bình Xuyên) qua xã Sơn Lôi, nhập với sông Bá Hạ rồi đổ vào sông Cà Lồ ở địa phận xã Nam Viêm (Mê Linh).

Sông Cầu Bòn
Bắt nguồn từ Thác Bạc núi Tam Đảo, đổ xuống làng Hà, xã Hồ Sơn, hợp với suối Xạ Hương, suối Bàn Long, xã Minh Quang (Tam Đảo), chảy từ phía Bắc xuống phía Nam qua các xã Gia Khánh, Hương Sơn, Tam Hợp đổ vào sông Cánh ở địa phận xã Tam Hợp (đều thuộc Bình Xuyên).
Sôn Phan và sông Cầu Bòn hình thành một đường vòng cung, hai đầu móc vào sườn Tam Đảo, Phía Tây và Phía Đông. Khu nghỉ mát, chiều dài khoảng 120 km. Về mùa khô, mực nước hai con sông này rất thấp, nhiều chỗ lội qua được. Nhưng về mùa mưa, nước từ Tam Đảo trút xuống, không tiêu kịp vào sông Cà Lồ thường ứ lại ở đầm Vạc và làm ngập úng cả một vùng rộng giữa hai huyện Yên Lạc và Bình Xuyên.
Phía Đông huyện Yên Lạc ngày nay còn lại nhiều dải đầm dài ở các xã Bình Định, Minh Tân, Tam Hồng, Liên Châu (có thể đây là những vết tích của một dòng sông ngày xưa, một chi lưu sông Hồng chảy từ làng Cẩm Khê, tổng Nhật Chiểu (Yên Lạc) về Đầm Vạc).

Sông Bá Hạ
Bắt nguồn từ suối Nhảy Nhót giữa xã Trung Mỹ (Bình Xuyên ) và xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên ), sông Bá Hạ chảy giữa xã Bá Hiến (Bình Xuyên) và xã cao Minh (Mê Linh) đến hết địa phận xã Bá Hiến đầu xã Sơn Lôi (Bình Xuyên), nhập với sông Cánh chảy về sông Cà Lồ. 

Suối Cheo Meo
Bắt nguồn từ xã Minh Trí (Sóc Sơn) chiều dài 11,5km, đổ vào sông Cà Lồ ở xã Nam Viêm (Mê Linh).

Sông Cà Lồ.
Sông Cà Lồ là một nhánh của sông Diệp Du, còn gọi là sông Nguyệt Đức, nó là một nhánh sông Hồng tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc).
Sông cà Lồ chảy ngoằn ngoèo từ xã Vạn Yên (Mê Linh) theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, giữa hai huyện Bình Xuyên, Mê Linh, vòng quanh thị trấn Phúc Yên rồi theo một đường vòng cung rộng phía Nam hai huyện Kim Anh, Đa Phúc cũ, đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc, xã Việt Long (nay thuộc huyện Sóc Sơn), dài 86km.
Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước các sông, suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng bình quân chỉ 30m3/giây. Lưu lượng cao nhất về mùa mưa chỉ 286m3/giây. Tác dụng chính là tiêu úng mùa mưa. Riêng khúc sông đầu nguồn cũ, từ Vạn yên đến sông Cánh đã được đắp chặn lại ở gần thôn Đại Lợi (Mê Linh), dài gần 20km, biến thành một hồ chứa nước lớn tưới ruộng và nuôi cá.
Tầng chứa nước địa chất thuỷ văn

Ngoài các sông suối, Vĩnh Phúc còn có các tầng chứa nước địa chất thuỷ văn:

- Tầng chứa nước Proterozoi: Cấu tạo bởi các đá biến chất cao, chủ yếu là đá phiến gơnai, quaczit, ămphibolit. Nước ở tầng chứa proterozoi trong, chất lượng rất tốt, lưu lượng nhỏ; tuy nhiên ở những đới phá huỷ, đập vỡ, lưu lượng nước có thể đạt trên 5 lít/giây. Tầng phá huỷ của tầng chứa Proterozoi có nước chất lượng tốt, có thể nghiên cứu đóng chai làm nước giải khát.
- Tầng chứa nước Mezozoi: Cấu tạo bởi các đá phun trào Triat giữa và muộn và các thành tạo chứa than của hệ tầng Văn Lãng. Chất lượng nước không đều, có nơi bị nhiễm sắt, lưu lượng nhỏ.
- Tầng chứa nước Kainozoi: Đây là tầng chứa nước quan trọng. Tuy nhiên do vỏ phong hoá mỏng nên lưu lượng nước không lớn, phần lớn chỉ sâu 4 - 5m đã gặp đá gốc. Tầng chứa nước đứt gãy: Trong các đới phá huỷ, nước tập trung với các tiềm năng lớn, chất lượng tốt.

Đầm hồ

Ngoài hệ thống sông ngòi và trữ lượng nước ngầm, Vĩnh Phúc còn có nhiều đầm, hồ lớn, thiên tạo có Đầm Vạc (Vĩnh Yên ), đầm Dưng, vực Xanh, vực Quảng Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường); đầm Tam Hồng, đầm Cốc Lâm (Yên Lạc), hồ Đá Ngang, hồ Khuôn, hồ Suối Sải (Lập Thạch ), đầm Riệu (Phúc Yên)… nhân tạo có hồ Đại Lải (Mê Linh), hồ Xạ Hương (Bình Xuyên), hồ Làng Hà (Tam Dương), hồ Vân Trục, hồ Bò Lạc (Lập Thạch)…

Đầm Vạc
Đầm Vạc là một đầm thiên nhiên có từ hàng nghìn năm nay. Có người nói xưa kia mặt nước mênh mông, lắm cá nhiều tép, lau sậy um tùm nên các loài chim trời như mòng, két, cò, cốc, le le, vịt trời, bồ nông, cuốc thi nhau về đây sinh sống; đêm dù tối trời hoặc có trăng sao thì từng đàn vạc cũng kéo nhau về kiếm ăn và gọi nhau râm ran một khoảnh trời, do đó mới gọi là Đầm Vạc.
Đầm vạc có diện tích mặt nước lên tới 48,4km2. Đây nguồn cung cấp nước ngọt cho nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Tại đây còn có mỏ đất sét với trữ lượng khoảng 21 triệu tấn có thể cung cấp nguyên liệu cho làng gốm cổ truyền Hương Canh.
Đầm Vạc có tiềm năng thuỷ sản phong phú, chủng loại đa dạng, như trắm, chép, mè, trôi… Nhiều loại xếp vào hàng đặc sản như lươn vàng, cá trê, cá chiên, cá nheo, trạch làn, trạch chấu, tép dầu, bông bống, ba ba, cá quả…
Đầm Vạc còn có tiềm năng lớn về du lịch. Trong “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1998-2010”, đầm Vạc là điểm chủ yếu trong cụm du lịch Vĩnh Yên và phụ cận. Nơi đây, sau khi xung quanh đầm được cải tạo mặt bằng, xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ, bãi tắm, sân chơi thể thao… thì địa điểm nơi đây sẽ là khu du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí hấp dẫn.

Hồ Đại Lải
Hồ Đại Lải là hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc, thuộc địa bàn hai xã Ngọc Thanh (Thị xã Phúc Yên) và Cao Minh (Mê Linh), cách tỉnh lỵ Vĩnh Yên 21 km, cách thủ đô Hà Nội 45km.
Diện tích mặt hồ rộng 525km2, chứa 26,4 triệu m3 nước, bảo đảm tưới tiêu cho 2900 ha đất canh tác của hai huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn (Hà Nội).
Ngành Thuỷ lợi đã tiến hành khảo sát và thiết kế xây dựng hồ chứa nước Đại Lải với nhiệm vụ “phục vụ đại bộ phận ruộng nằm bên bờ sông Cà lồ với tổng số diện tích 9000 ha”.
Bên cạnh lợi ích của một công trình đại thuỷ nông đối với sản xuất nông nghiệp, hồ Đại Lải còn là một trọng điểm của cụm du lịch Xuân Hoà và phụ cận, một khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần hấp dẫn.

Hồ Xạ Hương
Hồ Xạ Hương nằm trong thung lũng núi Con Trâu thuộc làng Xạ Hương, xã Minh Quang. Hồ được xây dựng từ năm 1984, nằm ở độ cao 53m so với mực nước biển. Ở đây có đập chính cao 41m, phía trong được kè đá tảng kiên cố để có thể tích nước hồ lên cao tới cốt 92 tạo mặt hồ rộng tới 83ha, với sức chứa hơn 10 triệu m3 nước, đủ tưới quanh năm cho 1850 ha đất canh tác phía hạ lưu.
Với lưu vực hơn 24 km2 gồm 4 con suối lớn và hàng chục khe nước nhỏ chảy vào quanh năm, hồ Xạ Hương không bao giờ hết nước. Theo thiết kế, dù nước hồ xuống đến mức không tự chảy ra mương được nữa thì trong lòng hồ vẫn còn tới 700.000m3 nước dự trữ, nhiều chỗ có độ sâu tới 13 m.
Như vậy, Vĩnh Phúc có một hệ thống sông ngòi khá phong phú. Mang lại nhiều lợi tích thiết thực cho nhân dân, cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

 

Các tin khác
Các tin đã đưa ngày: