Tượng chùa Tiền Môn

25/12/2019

Chùa Tiền Môn (tên chữ là Tiền Môn Tự) tọa lạc trên một khu đất cao ở đầu thôn Hùng Vỹ, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc. Còn được gọi là chùa Hùng Vỹ, chùa là một di tích tiêu biểu trong cụm di tích đình- đền- chùa của thôn, được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1994.

Chùa nhìn về hướng Nam, theo nhà Phật thì đây là hướng của Bát Nhã, của trí tuệ. Có lẽ chùa được xây dựng cùng thời gian với đình Hùng Vỹ (xếp hạng Quốc gia năm 1992), tức là khoảng đầu thế kỷ 18, đến nay đã trải qua nhiều lần sử chữa, trùng tu. Kiến trúc chùa còn khá nguyên vẹn với hai tòa kết nối với nhau theo hình chữ Đinh: Tiền đường năm gian, thượng điện ba gian được nâng nền cao hơn tiền đường và nối với tiền đường bằng hệ thống cửa vòm máng chảy. Các vì kèo được làm theo kiểu thức “chồng rường”, “giá chiêng” liên kết với hệ thống xà ngang, ăn mộng với nhau tạo thành bộ khung rất chắc khỏe.

Như hầu hết các chùa chiền miền Bắc, chùa Tiền Môn thờ Phật theo phái Đại thừa nên hệ thống tượng thờ khá phong phú. Đến nay chùa còn giữ được hầu như nguyên vẹn bộ tượng thờ ở chùa, chủ yếu là tượng gỗ, trong đó có nhiều pho tượng được tạo tác rất công phu và đẹp mắt, thể hiện tài nghệ điêu khắc gỗ của người thợ dân gian xưa. Tượng chùa Tiền Môn cũng được sắp xếp theo hệ thống giống với một Phật điện thông thường, thứ tự từ cao xuống thấp trên các bệ tượng ở chính điện và từ trong ra ngoài ở hai bên thượng điện. Điều đặc biệt là qua những bộ tượng tiêu biểu còn có thể thấy được những dấu ấn về sự phát triển và hòa nhập của đạo Phật nơi chùa làng, thể hiện qua quan sát, chiêm bái một số bộ tượng tiêu biểu, như:

Bộ tượng Tam Thế:

Đặt ở lớp cao nhất của chính điện. Ba pho tượng được tạc trong tư thế ngồi, cao 1.3m, khuôn mặt bầu, tai chảy dài gần chấm vai, cổ cao ba ngấn, tóc xoắn tít (vì vậy mà dân gian quen gọi là “Bụt ốc”), đỉnh đầu có Ushnisha (Nhục kháo) nổi cao, ngực có chữ Vạn, mắt nhìn xuống, miệng hơi mỉm cười như đồng cảm với chúng sinh. Tượng ngồi trên tòa sen kép nhiều lớp cánh, mỗi cánh sen lại chạm nổi một bông hoa cúc cách điệu. Dưới đài sen là bệ gỗ kết cấu giật cấp 3 tầng, trang trí các hình rồng, hoa sen, hoa cúc… cách điệu.

Tượng Tam Thế là bộ tượng tượng trưng cho chư Phật ở ba thời: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai, thường thì các pho tượng được tạc gần như giống nhau hoàn toàn. Tuy nhiên, ở chùa Tiền Môn, mỗi pho tượng trong bộ Tam Thế lại có cách kết ấn khác nhau, thể hiện sự sáng tạo và dụng ý của người nghệ nhân xưa.

Pho tượng ở giữa (Phật của thời Hiện tại) – tay trái úp lên bàn chân còn tay phải giơ lên ngang vai, lòng bàn tay hướng về phía trước, kết ấn vô úy. Ấn này biểu thị thiện ý, xua đuổi tà ma, truyền cho người khác lòng tự tin và dũng khí. Ấn vô úy ở đây thể hiện sức mạnh tâm linh của vị Phật thời Hiện tại, tỏ bày thiện chí hòa bình, hữu nghị.

Pho tượng bên phải (Phật của thời Quá khứ) – hai tay để ngửa, đặt lên nhau để ngang bụng trong lòng đùi, tay phải để trên tay trái, ngón tay duỗi ra, đầu hai ngón cái gần chạm nhau như tạo thành hình một tam giác bẹt. Đây là ấn thiền định, kết hợp với tư thế liên hoa tọa của tượng Phật thì đây chính là tư thế đức Phật ngồi thiền bên cội bồ đề trước khi đạt giác ngộ. Tam giác tạo ra bởi các ngón tay biểu thị sự cân đối hoàn hảo trong tâm thể và tượng trưng của Tam Bảo Phật giáo là: Phật, Pháp, Tăng. Phật giáo Mật tông còn tin rằng ấn thiền là tượng trưng cho ngọn lửa tâm linh thiêu rụi và hóa độ mọi thứ nhơ bẩn.

Pho tượng bên trái (Phật của thời Tương lai) – hai tay chắp trước ngực, các ngón tay hơi đan xoắn vào nhau. Đây là một biến thể của ấn hiệp chưởng hay còn gọi là ấn cầu nguyện. Thường thì cử chỉ tôn kính này không được dùng trong việc tạc tượng các vị Phật vì Phật mới chính là đối tượng để kính ngưỡng. Tuy nhiên ở vị Phật Vị lai ở đây lại sử dụng ấn này, điều này chứng tỏ chùa Tiền Môn trong lịch sử đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông. Hai bàn tay nối kết vào nhau biểu thị sự hợp nhất giữa chúng sinh giới (tay trái) và Phật giới (tay phải).

Bộ tượng Di Đà Tam Tôn:

Được đặt ở bệ tượng thứ hai dưới bộ Tam Thế. Gồm ba pho: Ở giữa là tượng A Di Đà ngồi kiết già trên tòa sen, tai chảy, tóc xoắn tít, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười, mặc áo cà sa nhiều lớp, hai tay kết ấn thiền để trong lòng đùi. Hai bên là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát được tạc giống nhau với khuôn mặt thon, cổ cao, tai chảy, áo cà sa rủ xuống nhiều nếp, đầu đội mũ trang trí các hình lưỡng long chầu nguyệt, hoa cúc cách điệu, tay cầm quyển sách buộc dải lụa tượng trưng cho kinh sách nhà Phật. Sự giống nhau và phong cách của hai pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát cho thấy tượng ắt phải được tạc từ thời Hậu Lê, vì các tượng có niên đại muộn (thường thuộc thời Nguyễn) thì hai tượng khác nhau, mỗi vị Bồ tát có một đặc trưng riêng.

Bộ tượng này mang ý nghĩa tiếp dẫn chúng sinh và giúp con người phát triển ba đức tính: Bi, Trí, Dũng trong bản thân mỗi người theo đức Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng của ba vị ấy. Ngoài ra có thể thấy, bộ tượng này thường xuất hiện ở các chùa Tịnh Độ tông với tượng A Di Đà được tạo tác lớn nhất trong chùa. Tuy  nhiên ở chùa Tiền Môn, bộ tượng này khá nhỏ. Như vậy có thể thấy ở đây đã có những ảnh hưởng của Phật phái Tịnh Độ, song đã dần bị phai nhạt và hòa đồng với các Phật phái khác trong sự phát triển tôn giáo của địa phương.

Tượng Quan Âm Thiên Thủ:

 Tượng cao 1.25m, đứng trên tòa sen, mặc áo cà sa nhiều lớp buông dài theo thân. Tượng được tạc rất công phu, khuôn mặt thon, tai đeo kim tằng, đầu đội mũ tỳ lư thất phật. Tượng có tất cả 34 tay, hai tay chắp trước ngực, hai tay khác duỗi dài hơi đưa ra trước và bàn tay hơi uốn cong lên. Mỗi bên sườn có 15 tay nữa, cánh tay để trần, thon nhỏ, ngón tay búp măng được tỉa tót tỉ mỷ, tất cả các bàn tay đều để ngửa, trên tay có các hình: phật tọa sen, bình cam lộ, thanh kiếm…

Tòa sen lại được đội trên đầu một con thủy quái với khuôn mặt dữ tợn và xấu xí. Điều này chứng tỏ tượng Quan Âm Thiên Thủ ở đây chính là Quan Âm Nam Hải (một trong những dạng Quan Âm nhiều tay hệ tượng chuẩn đề), có khả năng nhìn thấu suốt mọi vật, mọi thế giới, có thể biến hóa thành muôn nghìn thân thể để cứu vớt chúng sinh ở muôn nghìn hoàn cảnh.

Đây là một pho tượng đẹp của nghệ thuật tạo hình thời Lê.

Bộ tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế với Nam Tào – Bắc Đẩu:

Bộ tượng này thể hiện sự hòa nhập của Đạo giáo vào Phật giáo, thường được bổ sung vào chính điện Phật điện thông thường trong khoảng thời gian thế kỷ 19-20, nhằm nói lên uy lực của Trời, tức Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngọc Hoàng như biểu hiện cho đấng sáng tạo với quyền năng tối thượng. Tượng Ngọc Hoàng ở chùa Tiền Môn được tạc trong tư thế ngồi trên ngai vàng, đầu đội mũ bình thiên, mặc long cổn, tư thế đĩnh đạc, nghiêm trang.

Bên tay trái Ngọc Hoàng là tượng Nam Tào, vị thần giữ sổ sinh và xác nhận những điều tốt lành của chúng sinh. Bên tay phải Ngọc Hoàng là tượng Bắc Đẩu, vị thần giữ sổ tử và ghi chép những điều sai trái của chúng sinh. Hai vị tượng này được tạc tương đối giống nhau: Đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng, chân đi hài cong, mắt xếch, râu đen. Tượng Nam Tào cầm nghiên mực và ống quyển. Tượng Bắc Đẩu cầm bút và sổ sách.

***

Như vậy, qua xem xét và chiêm ngưỡng bốn bộ tượng tiêu biểu của chùa,  đã thấy được, ở ngôi chùa bình dị của làng xã này, có sự hòa nhập giữa các Phật phái khác nhau, cũng như sự hòa nhập của các tôn giáo khác (cụ thể ở đây là Đạo giáo). Sự hòa nhập, bình dân hóa tôn giáo của thần của phật đã để lại dấu ấn trong Phật điện chùa Tiền Môn, khiến ngôi chùa trở nên gần gũi hơn, dung dị hơn với đời sống thường dân, hòa nhập, đan xen, bình lặng mà sâu sắc giáo hóa chúng sinh hướng thiện, hành thiện.

   Hoàng Lĩnh


 

Các tin đã đưa ngày: