Chùa - tháp Cói

03/11/2020

Chùa Cói là chùa làng Cói, cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX thuộc tổng Hội Thượng, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Yên (năm 1903), nay thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Làng Cói xưa là một vùng đất có bề dày lịch sử, chùa cùng với tháp Cói, quán Tiên, cầu Đá, đình Tiên, chùa Hạ, miếu Mốc, cây trôi… của tổng Hội Thượng tạo nên một quần thể di tích dày đặc, gắn với những phong tục, lễ hội truyền thống rất phong phú của các làng cổ trong tổng.

Về lịch sử xây dựng chùa đến nay văn bia không còn lưu lại được, tuy nhiên qua khảo cứu di tích và dựa vào tài liệu nghiên cứu của Viện Mỹ thuật, trong lý lịch di tích có đưa ra nhận định: Chùa Cói được xây dựng vào khoảngthế kỷ XIII, khi đó chùa gồm có tam quan và chùa chính. Đến thế kỷ XVIII, hai cây tháp bảy tầng đượcdựng thêm hai bên phía trước chùa, sau tam quan.Đầu thế kỷ XIX, quy mô chùa đãhoàn chỉnh và đồ sộ gồm có các hạng mục: chùa, tam quan, tháp, trong chùa còn có hệ thống tượng pháp có giá trị nghệ thuật cao. Chính vì vậy chùa đã được Viện Viễn Đông Bác Cổ xếp hạng trong danh mục các di sản văn hóa có giá trịở Việt Nam từ năm 1939.

Đến nhữngnăm 50 của thế kỷ XX, chùa bị tàn phá nặng nề, chỉ còn tam quan, chùa, một cây tháp cùng một số pho tượng cổ.Thời điểm lập hồ sơ xếp hạng di tích năm 1996, chùa không còn kiến trúc cũ, kiến trúc mới được nhân dân phục hồi lại trên nền mới ở phía trước nền chùa cũ, tịnh tiến lên gần đến chân tháp. Chùa khi đó có 2 gian thờ dọc, di vật còn giữ được là 12 pho tượng gỗ có giá trị, mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thời Hậu Lê, gồm: 3 pho tam thế, tượng A-di-đà, tượng A-nan-đà, tượng Thích ca đứng thuyết pháp, tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Tượng chùa đến nay không còn được bảo tồn nguyên vẹn, một số pho tượng cũ đã bị mất, một số bị sơn lại.

Một công trình đến nay cũng chỉ còn trên ảnh lưu hồ sơ đó là tam quan chùa Cói.Tam quan chùa có kiến trúc ba gian, một tầng mái kiểu tàu đao, lá mái, vì kiểu chồng rường truyền thống trong kiến trúc gỗmiền BắcViệt Nam. Điều đặc biệt của tam quan chùa Cói là kết cấu chịu lực có 10 chiếc cột đá xanh được gọt đẽo công phu, mỗi cột có đường kính khoảng 0,25m, cao 2m. Hai cột cáigian giữa có phần thân cột được tạo như một tấm bia đá: phía trên khắc nổi các hình trang trí hoa văn búp sen, cánh dơi, lá đề…, phía dưới khắc tên những người công đức dựng chùa. Phần lạc khoản bị mờ nên chưa tra cứu được niên đại, chỉ có thể dựa vào tài liệu của Viện Mỹ thuật (sách Mỹ thuật thời Lý Trần - Nhà xuất bản Văn hóa - 1976) mà xác định tam quan chùa Cói được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XIII (thời Trần). Vào những năm đầu thế kỷ XXI, tam quan chùa hỏng nặng phần mái, nhân dân và nhà sư trụ trì đã hạ giải và dựng lại trên nền tam quan một kiến trúc mới, trên là gác chuông, dưới là bàn thờ Nguyễn Danh Phương.

Nói về Nguyễn Danh Phương, còn gọi là “quận Hẻo”, vốm là người làng Tiên Sơn (xóm Tiên) nay cũng thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên. Ông là người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại chính quyền phong kiến thời Lê - Trịnh. Ông đã cho xây dựng quán Tiên chỉ trong một đêm, thổi vào đóyếu tố thần tiên màu nhiệm để tạo thanh thế cho mình, thu hút quần chúng nhân dân gia nhập nghĩa quân. Theo truyền thuyếtdân gian, Nguyễn Danh Phương chínhlà người đã cho xây dựng hai cây tháp chùa Cói trong khoảng thời gian những năm 1740 - 1751.

Hai cây tháp chùa Cóihiện nay chỉ còn lại một cây, hiện trạng không còn nguyên vẹn. Tháp bị sạt mất phần đỉnh tháp và một mảng lớn ở 2 tầng trên cùng, phần nền móng bị lún, thân tháp bị tróc lớp áo vữa, tháp bị nghiêng, các tầng không còn cân đối và bị nứt một số chỗ. Cây tháp hiện nay có 7 tầng cao 7,7m, được xây bằng gạch vữa với lối kiến trúc cổ truyền theo kiểu “thượng thu hạ thách”. Chân tháp có kích thước 1,7m, các tầng giảm đều từ dưới lên trên kể cả chiều cao và chiều rộng, khoảng 20cm. Gạch xây tháp là loại gạch bìa hình chữ nhật và hình vuông có kích thước 30cm x 50cm hoặc 30cm x 30cm, độ dày 2-3cm. Đây là loại gạch Bát Tràng có độ nung cao, rắn, đanh, không cong vênh, đảm bảo bền chắc, chịu mưa nắng tốt. Gạch bìa chữ nhật chủ yếu để xây các tầng tháp.Loại gạch bìa vuông dày 3cm dùng để xây các lớp ngăn cách giữa các tầng. Lớp này có 5 hàng gạch xây so le thu dần lên trên tạo một vành đai chịu lực đỡ các tầng phía trên. Ở 4 góc tháp cong lên một chút như góc mái đao trong các kiến trúc gỗ, làm giảm vẻ nặng nề thô cứng của gạch vữa.Bốn mặt thân tháp được trang trí đơn giản giống nhau, chính giữa mặt tháp để 4 ô cửa. Bốn tầng dưới để ô cửa hình vuông, xây gạch 3 lớp thu đều vào trong lòng tháp. Ba tầng trên tạo ô cửa hình vòm cuốn. Toàn bộ thân tháp trát lớp áo vữa để bảo vệ, không có các hình trang trí hoa văn hay họa tiết trên gạch như tháp Bình Sơn (Sông Lô - Vĩnh Phúc) của thờiđại trướcđó. Các ô cửa để trơn xung quanh bo gờ vuông sắc cạnh. Sự đơn điệu trong trang trí thân tháp có lẽ là do ảnh hưởng của thời đại, khi phật giáo thời kỳ Hậu Lê bị lấn át bởi Nho giáo nên không còn thịnh hành, thống trị như giai đoạn trước.

Một điều đáng lưu ý nữa là ở chất vữa dùng để xây tháp. Các viên gạch được gắn kết với nhau bằng một thứ keo vữa truyền thống, được dân gian chế tạo từ vôi vỏ sò luyện với mật mía, thường gặp trong chế tác các con giống hoặc gắn các hình trang trí trên mái đình, chùa.Ở tháp Cói, những người thợ ngõa đã rất khéo léo, các viên gạch được gắn kết với nhau bằng những đường keo vữa rất nhỏ, kết dính cực chắc. Với kỹ thuật tay nghề cao, sự tỉ mỉ, chính xác, những người nghệ nhân dân giam đã tạo dựng nên một công trình kiến trúc bằng gạch có giá trị thẩm mỹ cao, trở thành một biểu tượng văn hóa của vùng.

Chùa Cói cùng với tháp, tam quan và hệ thống tượngđã được công nhận là di tích cấp tỉnhtheo Quyếtđịnh số 2882/QĐ-UB ngày 23/12/1996 củaỦy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú. Theo Nghị quyết số 71/2019/NQ-HĐNDngày 23/10/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quy định về cơ chế hỗ trợ đầu tư, tu bổ hệ thống di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021-2025, chùa (tháp) Cói được đầu tư tu bổ vào năm 2022. Việc tu bổ, tôn tạo cây tháp chùa Cói không chỉ nhằmđápứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân địa phương, mà còngóp phầnquan trọng vào việcbảo tồn và phát huy nhữnggiá trị di sản văn hóa tiêu biểu củatỉnh Vĩnh Phúc, quảng bá thêm về mộtđiểm đến tâm linh chứa đựng nhiều yếu tố về nghệ thuật kiến trúc cho du khách thập phương, cácnhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

 

- Linh Ngã

 

Các tin đã đưa ngày: