Di tích lịch sử Văn hóa

01/07/2015

Vĩnh Phúc - một vùng đất của xứ Đoài xưa. Xứ Đoài là vùng đất nằm hai bên tả, hữu ngạn sông Hồng, có 2 dãy núi Tam Đảo và Ba Vì bao quanh, là đất của Bộ Văn Lang thời sơ sử - các vua Hùng dựng nước qua 18 đời. Vĩnh Phúc nằm bán phận ở góc Đông Bắc xứ ấy.
Về địa lý tự nhiên, Vĩnh Phúc giáp với 5 tỉnh, thành phố:
Phía Đông Bắc và phía Bắc giáp 2 tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ.
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tây.
Phía Đông giáp Thành phố Hà Nội.
Địa hình núi sông đan xen và tương hỗ tạo nên vùng khí hậu thiên nhiên, cảnh quan và môi trường sống khá đa dạng và phong phú, những yếu tố cốt lõi đầu tiên để hình thành nên cốt cách văn hoá riêng của con người Vĩnh Phúc và di sản văn hoá Vĩnh Phúc.
A. Những yếu tố cơ bản của vùng địa văn hoá và sự khởi nguồn hệ thống di tích Vĩnh Phúc
I. Về núi

Dải Tam Đảo trải dài hơn 30km từ xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên) tới xã Đạo Trù (huyện Lập Thạch), là ranh giới tự nhiên với tỉnh Thái Nguyên - nhiều đỉnh cao trên 1.000m là các đỉnh Phù Nghì, Thiên Thị, Thạch Bàn; một vùng rừng nguyên sinh bảo tồn nhiều loài chim thú và thảm thực vật quý hiếm. Đặc biệt là vùng khí hậu mát mẻ quanh năm cùng bao cảnh trí thiên nhiên, trở thành vùng thắng cảnh hấp dẫn du khách gần xa như: Thác Bạc, thác Vàng, cầu Đái Tuyết, Suối Giải Oan... Rồi cũng từ Tam Đảo, qua cả nghìn năm, cha ông ta đã dựng nên những Danh lam mà nay đã thành cổ tích như chùa Đồng Cổ, Phù Nghì, Tây Thiên Thiền Tự, am Lưỡng Phong… mà chỉ cần nghe nhắc đến đã gợi bao cảm tác cho những mạch nguồn nghệ sĩ.
Khối núi Sáng ở phía Bắc huyện Lập Thạch với độ cao 644m là loại địa hình xâm thực bào mòn thuộc giới nguyên sinh, có các loại đá cứng như Giơnai, Quarzit, Amphibolit phân bố rộng hàng chục km2, một nguồn nguyên liệu lý tưởng cho người Việt Cổ dùng chế tác công cụ sản xuất thời nguyên thuỷ và sản xuất đồ gia dụng và dân dụng hiện nay.
Đồng thời, do sự kiến tạo của vỏ trái đất mà hình thành nên một số khu vực có địa hình núi trẻ: núi Đanh, Thanh Tước và hàng loạt dãy đồi bát úp lô xô trải dần từ Tam Đảo, núi Sáng tiến dần xuống vùng đồng bằng, tạo nên hình thể của vùng đất trung du.
II. Sông hồ
Với 2 hệ thống sông Hồng và sông Cà Lồ, có tổng chiều dài hàng trăm km đã tạo nên vùng châu thổ đồng bằng màu mỡ, là những địa bàn tụ cư của người Nguyên thuỷ với những di chỉ khảo cổ nổi tiếng như Đồng Đậu, Gò Dền, Lũng Hoà, Gò Hội ... và cũng hình thành những vùng thung lũng, đầm hồ để trở thành những thắng cảnh đẹp như đầm Vạc, đầm Dưng....
* Hệ thống sông Hồng gồm: Sông Hồng, sông Lô và sông Phó Đáy.
Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, qua Vĩnh Phúc từ ngã ba Bạch Hạc đến xã Tráng Việt (huyện Mê Linh) với chiều dài 41km.
Thời dựng nước, con người thuộc vùng đất Vĩnh Phúc bấy giờ cũng gắn liền với Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng với hàng loạt di tích khảo cổ học thời hình thành Nhà nước sơ khai, theo suốt dải sông Lô rồi sông Hồng là các di chỉ: Gò Hội (xã Hải Lựu), gò Đặng, gò Sỏi (xã Đôn Nhân) , di chỉ Sơn Đông (xã Sơn Đông), Lũng Hoà (xã Lũng Hoà), Đồng Đậu (thị trấn Yên Lạc), gò Dền (xã Tự lập)... Về sau, các di tích kiến trúc dọc theo sông Hồng phần nhiều cũng là nơi thờ các vị thiên thần liên quan đến Nhà nước Văn Lang như: Đình Cam Giá (xã An Tường) đình Khách Nhi (xã Vĩnh Thịnh), đền Ngự Dội (xã Vĩnh Ninh) với lễ hội rước nước nổi tiếng giữa hai bờ tả hữu sông Hồng của cư dân hai miền Hà Tây - Vĩnh Phúc dịp mùng 6 tháng giêng, hay các ngôi đền Thính, đền Tranh (lưỡng Bắc cung từ) của huyện Yên Lạc và nhiều đền khác nữa thuộc huyện Mê Linh.
Sông Lô cũng từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam tới Vĩnh Phúc ở quãng xã Quang Yên (Lập Thạch), vừa là đường phân thuỷ - ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ, vừa là đường giao thông thuận lợi dọc dài đến Ngã ba Hạc để hoà với sông Hồng. Với 34km qua địa phận Vĩnh Phúc, sông Lô đã từng lưu dấu bao sự tích bi hùng suốt chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc Việt. Là bãi luyện quân trên bến Đông Hồ (xã Sơn Đông) của Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, nay còn đền thờ Tả tướng quốc - một danh nhân công thần tiết liệt ở thế kỷ XV. Về một căn cứ của Lý Bí (Lý Bôn) ở thế kỷ VI chống quân Lương - vùng Hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên) hay ngược nữa để lên vùng Bạch Lưu - Hải Lựu với tích cổ về danh tướng họ Lã - Lã Gia (hay còn gọi là Lữ Gia) đánh giặc Tây Hán thời Công nguyên và lễ hội chọi trâu nổi tiếng cả một vùng được hình thành từ buổi đó mà còn lưu giữ đến tận ngày nay.
Từ Bắc Cạn chảy qua Tuyên Quang vào Vĩnh Phúc, với chiều dài 41,5km nội tỉnh, sông Phó Đáy chảy suốt chiều dài phía Đông huyện Lập Thạch, nơi những lô xô, chập trùng những dải núi trẻ của một vùng trung du điển hình để tạo nên một không gian văn hoá đặc thù. Hầu hết các di tích kiến trúc vùng này mang đậm sắc thái của tục thờ thần rừng, thần núi như U Sơn, ô Sơn, Giàn Sơn... Những ngôi đền được dựng trên núi có độ cao trung bình từ 300 - 500m tạo một không gian cảnh quan như muốn tách biệt với trần thế, ví như đền thờ thân mẫu, thân phụ của 7 anh em họ Lỗ ở Bồ Lý (Lập Thạch) đã cùng quân dân giúp triều đình nhà Trần đánh tan giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. Rồi dòng sông lại chảy qua một phần huyện Vĩnh Tường ở phía Đông để trở về nguồn, hợp lưu với sông Hồng cũng ở ngã ba Hạc, để lại hai bên bờ những sắc màu văn hoá dân gian như lễ hội bơi chải xã Việt Xuân, xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường ngàn đời lưu dấu không phai.
* Hệ thống sông Cà Lồ
Theo sách “Thuỷ Kinh Chú” của Lê Đạo Nguyên thì sông Cà Lồ là một nhánh của sông Diệp Du - là con sông trọng yếu của đất Giao Chỉ ở khoảng đầu Công Nguyên, sông Cà Lồ từ phía Bắc huyện Mê Linh chảy qua 2 huyện Phong Khê và Vọng Hải đổ vào sông Cầu ở phía Bắc huyện Long Uyên, cùng với sông Thiếp bắt nguồn từ Nại Tử Châu (cũng thuộc huyện Mê Linh) chảy qua Cổ Loa, trở thành 2 con sông cổ đã chứng kiến những trận thuỷ chiến oanh liệt của Hai Bà Trưng và các nữ tướng đánh giặc Tô Định thời đầu công nguyên, để đến bây giờ trên khắp vùng còn ghi nhớ công lao của các bậc anh hùng liệt nữ với hơn 100 di tích thờ Hai Bà và tướng lĩnh trên địa bàn tỉnh, mà tiêu biểu là di tích đền thờ Hai Bà Trưng ở xã Mê Linh đã trở thành niềm tự hào của bao thế hệ cháu con với tướng Bà phục quốc.
Cà Lồ còn có tên gọi là sông Nguyệt Đức, theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì Nguyệt Đức là chi lưu của sông Bạch Hạc, chảy theo hướng Đông Bắc qua các huyện Yên Lạc, Yên Lãng, qua 65 dặm đến Thịnh Kỷ rồi hợp vào sông Khả Do huyện Đông Anh.
Là chi lưu của sông Hồng từ đoạn xã Trung Hà (Yên Lạc), sông Cà Lồ chảy quanh co từ xã Vạn Yên (Mê Linh) giữa hai huyện Bình Xuyên và Mê Linh theo hướng Đông Bắc, qua thị trấn Phúc Yên rồi mở đường vòng cung rộng xuống vùng Đông Anh - Đa Phúc để hợp lưu với sông Cầu ở thôn Lương Phúc, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn với tổng chiều dài 86km.
Sông Phan với nhiều tên gọi theo địa danh mà dòng chảy đi qua ví như tên gọi Sơn Tang theo sách “Vân Đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn hay sách “Đại Nam nhất thống chí” chép là “Khe huyện Yên Lạc” hoặc gọi đó là “Ngòi Vĩnh Yên” khi qua vùng Vĩnh Yên chảy vào Đầm Vạc.
Sông Phan cũng là một con sông nội tỉnh, bắt nguồn từ dãy Tam Đảo, từ nguồn bởi các con suối ở các xã Đại Đình, Tam Quan, chảy qua Tam Quan, Hợp Châu (huyện Tam Đảo), Duy Phiên, Hoàng Lâu (huyện Tam Dương), Kim Xá, Yên Lập, Lũng Hoà, Thổ Tang (huyện Vĩnh Tường), theo hướng Tây Nam rồi chuyển hướng Đông Nam qua các xã Vũ Di, Vân Xuân (huyện Vĩnh Tường), lệch sang hướng Đông Bắc qua các xã Tề Lỗ, Đồng Văn, Đồng Cương (huyện Yên Lạc) rồi đổ vào Đầm Vạc (Vĩnh Yên), qua Quất Lưu, Hương Canh, Sơn Lôi, Bá Hạ (huyện Bình Xuyên) rồi đổ vào sông Cà Lồ ở địa phận xã Nam Viêm (thị trấn Phúc Yên).
Cũng bắt nguồn từ sườn phía Tây núi Tam Đảo còn có sông Cầu Bòn, hợp thành bởi các con suối Làng Hà, Xạ Hương, Bàn Long, chảy qua các xã của huyện Bình Xuyên: Gia Khánh, Hương Sơn, Tam Hợp đổ vào sông Phan (tức sông Cánh đoạn Hương canh). Sông Bá Hạ là hợp nguồn của các con suối từ xã Trung Mỹ (huyện Bình Xuyên) và Ngọc Thanh (Phúc Yên) chảy qua các xã Bá Hiến, Cao Minh, Sơn Lôi hoà vào sông Cánh về sông Cà Lồ. Các sông thuộc hệ thống sông Cà Lồ đều bắt nguồn từ dãy Tam Đảo (riêng sông Cà Lồ thì đầu nguồn do sông Hồng) nhưng về cơ bản lưu lượng nước cũng từ các con sông khác hợp thành (sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ), chỉ khi có các cơn lũ từ Tam Đảo, nước tiêu không kịp tạo nên những vùng ứ trũng: Đầm Vạc (Vĩnh Yên) hoặc các dải đầm trũng thuộc hai huyện Yên Lạc, Bình Xuyên. Với hai con sông chủ yếu là sông Cà Lồ, sông Phan, lưu tốc dòng chảy không lớn vì quanh co hầu khắp các huyện trong tỉnh, lưu lượng nước thấp, nhưng lại có tác dụng rất lớn là đã tạo nên rất nhiều vùng cư trú thuận lợi cho con người Việt cổ, đây là một yếu tố rất quan trọng để lý giải rằng tại sao ở Vĩnh Phúc lại có nhiều di chỉ khảo cổ học đến vậy? Trong đó phần lớn là các di chỉ thuộc thời đại Hùng Vương (có thể lấy mốc là từ văn hoá Phùng Nguyên cho đến Đông Sơn) và chuyển tiếp liên tục về sau, kể từ sau Công nguyên là thời kỳ chống phong kiến phương Bắc mà khởi đầu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
III. Về địa hình
Với tổng diện tích tự nhiên là 1.370km2, có hàng trăm km các con sông chảy qua, nhiều đầm hồ lớn: đầm Vạc, đầm Dưng, các hồ Vân Trục, Đại Lải, Xạ Hương, làng Hà, Bò Lạc, suối Sảichiếm tổng diện tích lên tới 1.189 ha mặt nước, vừa là những vùng châu thổ rộng lớn, quy tụ các cộng đồng người qua chiều dài lịch sử, đồng thời đó cũng là những con đường giao thông thuỷ, là huyết mạch trọng yếu của đời sống cư dân nông nghiệp kéo dài suốt từ thời dựng nước cho đến giai đoạn những năm 50 của thế kỷ XX. Đây là một câu hỏi để trả lời tại sao hệ thống các di tích vùng ven núi, đầu nguồn lại thờ thần núi, thần nước, ví như nhiều di tích thờ Giang Khẩu (cửa Sông) hay các vị sơn thần ở Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên

B. Khái quát về di tích Vĩnh Phúc
I. Về di tích danh thắng

ở Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo là kết quả của quá trình hoạt động núi lửa thuộc hệ Triat Thống trung cách nay khoảng 160 triệu năm mà thành. Núi Tam Đảo kéo dài khoảng 50km nhưng những thắng cảnh chủ yếu tập trung ở vùng Tam Đảo và Tây Thiên. Theo sách An nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng đời Minh (thế kỷ XV) và Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn (1723 - 1783) thì Trên núi Tam Đảo có am Vân Tiêu, am Song Tuyền, am Lưỡng Phong, thang Bộ Vân và cầu Đái Tuyết, phong cảnh đều kỳ tuyệt... Về phía Đông (vùng Trung Mỹ, Bình Xuyên) có núi Ngọc Bội, núi Thanh Lanh, có khe Nhân Túc và Yểm Nhĩ tạo thành nguồn chảy từng đoạn, từng đoạn gồm 99 khúc; thác đẹp có thác Bạc, thác Vàng, thác Ba Ao, suối Giải Oan
Rừng Tam Đảo có hệ động, thực vật vô cùng phong phú, nhiều giống loài quý hiếm như cá Nóc, Rùa Vàng, côn trùng đặc hữu; các loại gỗ: Lát, Lim, Đinh, Hươngnhững thảm thực vật nguyên sinh là món quà và tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người.
Từ những thắng cảnh tự nhiên, con người đã biết nương theo cảnh vật mà nhân tạo hoá những danh lam tuy nay đã thành cổ tích. Trên đỉnh ngọn Thạch Bàn có chùa Đồng Cổ dựng giữa hai khe suối quanh năm nước chảy từ phía sau, chảy vòng hai bên ôm lấy cảnh chùa trên một bãi đất bằng phẳng rộng 400 500m2, dịch mé Đông chùa là một rừng trúc trên một vùng đất bằng phẳng ước độ 2 mẫu Bắc Bộ. Từ những mảnh đồ gốm sứ còn lại có thể nghĩ rằng chùa được dựng từ thế kỷ XIII XIV. Phía Đông là đỉnh Phù Nghĩa, ở sườn núi có chùa Phù Nghì dựng giữa rừng trúc với thông, nay còn 2 cây Thông đường kính tới 1,40m. Chùa dựng trên 4 cấp nền tổng cộng rộng chừng 2000m2, có suối Giải Oan chảy từ phía sau vòng qua mé hữu, bên tả là sườn núi thoải dần về phía Tây, chùa được bài trí trong cảnh tả sơn hữu thuỷ. Chùa Phù Nghì cũng được xây dựng khoảng thế kỷ XIII. Ngang chếch về phía Tây Nam có Tây Thiên tự được dựng khoảng cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, qua khai quật khảo cổ thấy nền chùa có nhiều hàng chân đá phiến xếp đều theo kiểu chạy đàn, rất nhiều mảnh tháp đất nung với văn hoa đẹp và tinh xảo thuộc thời Lý Trần cùng nhiều di vật chứng tỏ niên đại kéo dài cho đến thế kỷ XIX - thời Nguyễn. Nơi đây nay đã phục dựng nên một đại danh lam là Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, một công trình kiến trúc hoành tráng trong phạm vi khuôn viên gần 4ha ở độ cao hơn 300m.
II. Về loại hình di tích khảo cổ
Cho tới nay, ở Vĩnh Phúc đã có hơn 20 địa điểm, di chỉ được phát hiện, thám sát, khai quật và nghiên cứu, thuộc các giai đoạn văn hoá khảo cổ: Hậu kỳ đá cũ, văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn và nhiều di chỉ, địa điểm, dấu tích ở thời kỳ sau công nguyên cho đến thế kỷ X. Trong đó, phổ biến hơn cả là các di chỉ thuộc giai đoạn Kim Khí thời kỳ hình thành Nhà nước sơ khai (từ văn hoá Phùng Nguyên đến văn hoá Đông Sơn), tập trung ở các di chỉ lớn, phạm vi phân bố rộng, tầng văn hoá dày, hiện vật phong phú và có những đặc điểm khá rõ nét dễ nhận biết . Đó là: Di chỉ cư trú ở Gò Hội (xã Hải Lựu, Lập Thạch), di chỉ cư trú, mộ táng và khu lò nung gốm Lũng Hoà (huyện Vĩnh Tường), khu cư trú, mộ táng và luyện kim đồng - Gò Dền (xã Tự Lập huyện Mê Linh). Đặc biệt điển hình là di chỉ Đồng Đậu với diện tích 6.5ha, phạm vi phân bố tầng văn hoá khoảng gần 4ha, tầng văn hoá dày 3,5m đến 4,0m, bao gồm 4 giai đoạn văn hoá khảo cổ. Lớp sớm nhất dưới cùng: Giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên, tiếp theo là các lớp văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun và trên cùng thuộc văn hoá Đông Sơn - 4 giai đoạn văn hoá khảo cổ nối tiếp nhau liên tục không có thời kỳ gián cách. Một di cốt tương đối nguyên vẹn của một người đàn ông (lớp thuộc văn hoá Phùng Nguyên, sát tầng sinh thổ) ở phía Tây Gò đã khẳng định rằng nơi đây là một di chỉ cư trú mộ táng của người Việt Cổ đã định cư với thời gian dài tới hàng nghìn năm. Những dấu tích vật chất là số lượng hiện vật qua 6 lần khai quật từ khi phát hiện năm 1962 đến năm 1999 với tổng diện tích là 758m2 là số lượng khổng lồ. Về cơ bản cũng đã cho phép có một cách nhìn tương đối khái quát về đời sống và quá trình phát triển lịch sử của cư dân Văn Lang ở buổi đầu dựng nước.
Tuy vậy, cũng còn rất nhiều luận điểm còn cần được tiếp tục nghiện cứu, lý giải và khẳng định thông qua nguồn tư liệu đồ sộ đang còn được bản quản nguyên vẹn trong phần lớn diện tích của di chỉ. Vì vậy Đồng Đậu được xếp vào loại di tích đặc biệt quan trọng của tỉnh, đã được lập quy hoạch tổng thể để có phương án bảo quản, sử dụng, đầu tư và khai thác để phát huy có hiệu quả nhất trong tương lai.
III. Di tích kiến trúc nghệ thuật
Chiếm phần lớn trong hệ thống di tích của tỉnh, đó là những công trình kiến trúc, xây dựng phục vụ mục đích sử dụng làm nơi thờ cúng chung của làng hoặc một cộng đồng dân cư, bao gồm các loại hình: Đình, đền, miếu, phủ, chùa, tháp, nghè, am, lăng, quán, nhà thờ các loạiqua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử còn được lưu truyền cho đến ngày nay.
Vùng cư dân nông nghiệp với yếu tố nước chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong cuộc sống, lại có mật độ sông ngòi, đầm hồ được phân bố đều khắp, liên hoàn trên phạm vi toàn tỉnh, cùng với đó là nơi tụ cư của các cộng đồng làng xã, được gắn bó với nhau bởi tình làng, nghĩa nước và cũng chính những dòng sông là sợi dây gắn kết giữa các cộng đồng và các thành viên của từng cộng đồng độc lập. Sông vừa là mạch nguồn của sự thông thương, giao lưu đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống, nhưng đồng thời sông cũng chính là những đường vận chuyển quân lương của các cuộc kháng chiến giành độc lập và bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt qua hàng năm lịch sử.
Miền đất Vĩnh Phúc, người Vĩnh Phúc từ xưa không những đã từng chứng kiến mà còn hơn thế nữa, trong tất cả mọi cuộc chiến tranh, con người nơi đây luôn sẵn lòng vì nghĩa, xả thân vì nước. Từ Hát Môn, đã là nơi phát đi lời thề của Hai Bà Trưng đền nợ nước, trả thù nhà để suốt một dải sông Hồng từ Mê Linh đến Yên Lạc, ngược Vĩnh Tường, Tam Dương, Lập Thạch nay còn lưu dấu những di tích thờ Hai Bà và các tướng lĩnh của Hai Bà như: ả Lã, ả Nương, Triệu Thị Khoan Hoà, Lê thị Ngọc Chinh..., với danh sách 104 tướng lĩnh.
Cuộc chiến của Lý Bí đánh giặc Lương thế kỷ VI theo suốt dải Cà Lồ với di tích thờ Lý Bí và phu nhân ở vùng Tiến Thắng, Đạo Đức rồi theo sông Hồng để rẽ ngược sông Lô lên vùng đầm hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch).
Thế kỷ X còn ghi dấu Nguyễn Khắc Khoan - một trong Thập nhị sứ quân đã thống lĩnh một phần đất xứ Đoài bên tả ngạn sông Hồng, quy tụ nhân tâm, đồng lòng khai thác một vùng châu thổ sông Hồng suốt vùng Vĩnh Tường, Yên Lạc.
Vua tôi nhà Trần cùng toàn dân Đại Việt ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, thế kỷ XIII, lừng danh với các trận đánh ở Bình Lệ Nguyên (vùng sông Cánh đoạn từ Thịnh Kỷ đến cầu Treo và vùng sông cổ từ Hương Canh nối với vùng Thanh Lãng nay). Khu điền trang thái ấp của Trần Liễu, cùng hàng chục di tích thờ Hưng Đạo đại vương Quốc Công Tiết Chế ở xã Tiến Thịnh (huyện Mê Linh) và phần mộ Trần Quang Khải ở xã Bình Định huyện Yên Lạc, cùng với các di tích thờ Lân Hổ Hầu (đình Vĩnh Sơn, đình Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường) và các di tích ở thị xã Vĩnh Yên thờ Thất Đinh sơn (7 anh em họ Lỗ) phò giúp triều Trần đánh giặc Nguyên Mông, sau buổi khải hoàn đã hoá thánh tại Đinh sơn (núi Đinh) đều là những dấu ấn khó phai của nền văn hoá Việt.
Từ vùng địa linh ấy, từ vùng đất văn hoá ấy đã sản sinh và nuôi dưỡng nên các thế hệ những con người đã biết sống, biết xây dựng quê hương và biết đấu tranh để gìn giữ những bản sắc văn hoá của chính mình, của các thế hệ để lưu truyền muôn đời hậu thế. Qua các thời kỳ lịch sử, ở các miền, vùng đều có các danh nhân lịch sử, danh nhân văn hoá như những ngôi sao sáng làm rạng rỡ bầu trời quê hương, khi đương chức, đương thời, các vị đã góp đức, góp tài làm rạng danh đất nước, dùng nhân, dùng nghĩa để an định muôn dân. Những tấm gương trung liệt ấy mãi đi vào lịch sử và lưu dấu tích tại quê hương là những đền thờ danh nhân qua các thời đại, do người đời sau lập nên để mãi khói hương thờ phụng. Trong tổng số 120 danh nhân toàn tỉnh, đã có 5 vị được các đời Vua phong sắc Thành hoàng. ở huyện Bình Xuyên có nữ tướng Triệu Thị Khoan Hoà, bà có 5 người con trai ngũ vị áp Lang theo Hai Bà Trưng đánh giặc, bà được phong là Thánh Mẫu đương cảnh Thành Hoàng, đền thờ tại xã Thanh Lãng. Huyện Yên Lạc có đền thờ Nguyễn Khắc Khoan (còn gọi là đền Gia Loan) trên một gò cao ở thị trấn Yên Lạc, thường gọi là gò Biện (hay Độc Nhĩ Sơn sách Đại Nam Nhất Thống Chí). Lại có ả Nương khoan khoáng Đại Vương nữ tướng thời Lý Bí đánh giặc Lương thế kỷ thứ VI, đền thờ Bà ở các xã Đồng Văn, Trung Nguyên, Đồng Cương (huyện Yên Lạc) và xã Phú Xuân (huyện Bình Xuyên). ở huyện Vĩnh Tường, thời Hai Bà Trưng có nữ tướng Lê Thị Ngọc Chinh ở xã Lũng Hoà, thế kỷ XII, đời Vua Lý Cao Tông (1176 -1210) có công thần võ tướng Nguyễn Văn Nhượng ở xã Thượng Trưng.
Còn có 10 danh nhân được phong Thần và Phúc Thần để các làng (nguyên là quê gốc) lập đền, miếu hương hoả phụng thờ mãi mãi.
5 làng Tích Sơn (Vĩnh Yên) thờ 7 anh em họ Lỗ (Thất vị Lỗ Đinh Sơn) thế kỷ XIII.
Huyện Lập Thạch có nhà giáo Đỗ Khắc Chung (thế kỷ XIII), Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn (thế kỷ XV), đều có đền thờ ở làng Quan Tử xã Sơn Đông. Lưỡng quốc Trạng Nguyên Triệu Thái (xã Hoàng Chung) (thế kỷ XV) và Nguyễn Thiệu Tri một danh thần được tôn xưng: “Quan Tiết cũng ở thế kỷ XV thuộc xã Xuân Lôi.
Huyện Bình Xuyên có danh thần Đào Sư Tích (thế kỷ XIV), danh nhân Nguyễn Duy Tường (thế kỷ XVI) ở làng Lý Hải xã Phú Xuân, Nguyễn Duy Thì (thế kỷ XVI - XVII) có phủ thờ ở làng Hợp Lễ, xã Thanh Lãng.
Huyện Yên Lạc có trạng nguyên Phạm Công Bình (thế kỷ XII) ở xã Đồng Văn.
Thị xã Phúc Yên có danh sĩ Ngô Kính Thần (thế kỷ XV) ở làng Xuân Phương, phường Phúc Thắng.
Điểm qua như thế, nên chăng cũng nên gọi nơi đây là vùng đất nhân kiệt. Và con người nơi đây thì thuỷ chung, có trước, có sau, sự đền ơn đáp nghĩa với các vị Thánh, Thần, các bậc Tiên Liệt, những người có công với làng, giúp ích cho Nước bằng lối ứng xử rất Việt Nam: Tôn xưng lên thành bậc Thánh, Thần và lập miếu, đền thờ phụng, mãi mãi lưu truyền tự tại dân gian, song hành với lịch sử thành văn, kể cả từ khi chưa có văn tự - một lối hành xử văn hoá thật là dân dã và cũng thật là đẹp đẽ của người Việt Nam. Đó cũng chính là yếu tố để tạo nên tính cách, nhân cách Việt: Nhân hoà là phương châm cốt lõi để ứng xử trước mọi hoàn cảnh. Đó là quá trình đối đãi với tự nhiên, hay là quá trình ứng xử với các dòng văn hoá khác để hoà nhuần thành văn hoá Việt? Vì vậy nên, cùng với hệ thống các đình, đền, miếu, phủ là nơi thờ các bậc thánh, thần, các làng ở Vĩnh Phúc (cũng như mọi làng Việt cổ thuộc vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ) còn xây dựng ở mỗi làng một ngôi chùa để thờ Phật, một loại hình tôn giáo được du nhập vào Việt Nam từ khoảng đầu công nguyên, để cho đến bây giờ, mỗi người đều cảm thấy việc đi chùa lễ Phật, nghe giảng Phật pháp là điều hết sức tự nhiên, như là một phần của cuộc sống.
Hệ thống các di tích kiến trúc và nghệ thuật được tạo dựng qua nhiều thế kỷ, mang dấu ấn nhiều thời đại, gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau và cũng là sự phản ánh tâm tư, nguyện ước, sắc thái văn hoá vùng, miền để tạo nên một sự đa dạng, đa sắc màu trong bức tranh tổng thể di tích chung của Vĩnh Phúc, trong đó chứa đựng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể để tạo nên một giá trị văn hoá tổng thể bao gồm:
1. Yếu tố tâm linh và truyền thống trong di tích.
ở đó chứa đựng và thể hiện tính sáng tạo , tính đặc thù về trình độ và khả năng tư duy của con người qua từng giai đoạn lịch sử, thông qua các kiểu dáng, các loại hình và các phương pháp kỹ thuật thi công xây dựng, những công trình thuộc lĩnh vực thờ cúng, mang đậm yếu tố tâm linh tín ngưỡng những công trình đậm chất linh thiêng của cả một cộng đồng và thấm sâu vào đến từng thành viên trong quá trình hưng công, góp của và thực thi công việc, từ khi có ý tưởng xây dựng đến khi công trình hoàn thành và qua thực tế hàng trăm, thậm chí cả ngàn năm, yếu tố thiêng liêng của nơi thờ tự không những được giữ vững mà hơn nữa ngày càng sâu đậm trong mỗi cá nhân và cả cộng đồng, xuyên suốt qua nhiều thế hệ mà vẫn mãi được lưu truyền, không hề phai nhạt trong bất kỳ hoàn cảnh bĩ thái ra sao.
* Về kiểu dáng: Tuỳ theo chức năng sử dụng của từng loại hình di tích; cách tư duy, sáng tạo của con người từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà có cách bố cục kiến trúc khác nhau.
* Về niên đại: Thực tế, hệ thống di tích kiến trúc và nghệ thuật ở Vĩnh Phúc hiện nay, về cơ bản, những di tích có niên đại xây dựng sớm nhất cơ sở xác định là thông qua kết quả kiểm tra, khảo sát khảo cổ học. Đó là hệ danh lam ở vùng Tây Thiên, khởi nguồn xây dựng là từ thời Lý Trần (thế kỷ XII - XIII): Chùa Đồng Cổ, Phù Nghì, Tây Thiên Thiền tự (như đã nêu trên) nay đã trở thành cổ tích. Còn lưu giữ đến nay có tháp Bình Sơn (xã Tam Sơn, Lập Thạch) hoặc tấm bia đá thời Lý ở chùa Cấm (phường Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên).
* Về quy mô kiến trúc (mặt bằng):
a. Kiểu chữ “vương” còn một số di tích: Cụm đình Hương Canh (huyện Bình Xuyên) gồm: đình Hương Canh, đình Ngọc Canh, đình Tiên Canh và chùa Kính Phúc; đình Bạch Trữ (xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh).
b. Kiểu chữ “tam” có chùa Am (Vĩnh Phúc Tự) xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch.
c. Các di tích khác hầu hết thuộc loại kiến trúc kiểu chữ đột (hoặc còn gọi là chữ đinh hoặc chuôi “vồ) nghĩa là gồm 1 toà ngoài với 3-5 hoặc 7 gian và hậu cung có 1-3 gian vuông góc với toà ngoài, với lối kiến trúc 4 mái có đao: Đình Phú Mỹ (xã Tự Lập, huyện Mê Linh), đình Thổ Tang (xã Thổ Tang), cụm đình Cam Giá, Bích Chu, Thủ Độ (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường). Cũng lối kiến trúc này nhưng với chùa thì có thêm các thành phần kiến trúc khác nữa: Cổng tam quan ở phía trước, nhà thờTổ phía sau, nhà khách, tăng đường, trai đường,.ở hai bên chính điện. Ví như: Chùa Tùng Vân (Thổ Tang), chùa Hoa Dương (xã Tuân Chính) đều ở huyện Vĩnh Tường. Chùa Diên Phúc (xã Văn Khê), chùa Diến Táo (xã Tiến Thắng) của huyện Mê Linh, chùa Kính Phúc (thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên), chùa Vĩnh Phúc xã Sơn Đông huyện Lập Thạchcác ngôi chùa mới phục dựng hiện nay: Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên, chùa Hà Tiên (thị xã Vĩnh Yên) đều thể hiện theo kiểu kiến trúc truyền thống đó.
Số còn lại, về cơ bản là kiểu kiến trúc mái thẳng, đầu hồi bít đốc.
2. Về thành phần kết cấu kiến trúc
Nhìn chung di tích trong tỉnh đều sử dụng phương thức chịu lực là hệ cột, kèo, liên kết các gian bởi hệ xà dọc. Riêng bộ vì có các kiểu: Kèo thẳng (đối với các di tích có quy mô xây dựng không lớn như: Nhà thờ họ, nhà thờ tổ nghề) - mà điển hình là Phủ thờ (tức đền thờ) Nguyễn Duy Thì xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, còn lại đại đa số sử dụng lối kết cấu có cấu tạo bộ vì kiểu Thượng kẻ hạ bẩy chồng rường giá chiêng, là kiểu kiến trúc truyền thống, đảm bảo sự chắc, khoẻ của công trình, với kỹ thuật nối thêm hoặc bớt đi hàng các con rường đội và hàng cột đỡ là thực hiện được ý đồ xây dựng. Đây chính là một giải pháp sáng tạo rất độc đáo của cha ông ta trong kỹ thuật kiến trúc gỗ truyền thống của người Việt.
3. Về góc độ mỹ thuật trong thành phần kiến trúc
Các chi tiết, đề tài hay mảng đề tài chạm khắc gỗ với những chủ đề truyền thống cơ bản là các đề tài liên quan tới các linh vật đại biểu cho sự cao thượng, trường tồn là: Long (rồng), Ly (nghê), Quy (rùa), Phượng (chim) hay về thực vật có tứ quý là: Thông, Cúc, Trúc, Mai (hoặc hoa đào) là những môtíp hoặc được chạm khắc đặc trưng, hay được thể hiện dưới góc độ biến đổi, cách điệu (còn gọi là hoá) cho đề tài thêm sinh động, là những môtíp nghệ thuật rất phổ biến, hầu như ở tất cả các di tích đều quan tâm đến. Tuy nhiên, do đặc thù của từng di tích mà có cách thể hiện cho phù hợp với yếu tố riêng biệt về tập quán và phong cách vùng, miền.
ở những di tích có quy mô kiến trúc lớn, các nghệ nhân dân gian còn có cơ hội để sáng tạo nên những đề tài chạm khắc trở thành những tác phẩm nghệ thật tạo hình thể hiện quá trình tư duy sáng tạo, xứng đáng được trân trọng là những giá trị văn hoá trường tồn. Ví như những tác phẩm điêu khắc thể hiện các góc độ về đời sống sinh hoạt, sản xuất, các trò chơi, phong tục, lễ hội; bao gồm cả đời sống văn hoá vật thể và phi vật thể của các giai tầng xã hội được khắc hoạ vừa cụ thể vừa khái quát thông qua bút pháp nghệ thuật rất nhẹ nhàng, ý tứ nhưng rất sâu xa với ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà rất đậm nét văn hoá của cư dân vùng trung du đồng bằng đặc thù ở Vĩnh Phúc. Đó là các tác phẩm đục chạm thuộc các thành phần kiến trúc gỗ: Cảnh đi săn, đấu vật, bơi chải, đám cướiở đình Hương Canh, Ngọc Canh (Bình Xuyên), hay cảnh đánh cờ, uống rượu, lễ hội xuống đồng ở đình Thổ Tang (Vĩnh Tường)…Kể cả vị trí, bố cục, cách sắp xếp các đề tài, các mảng hoặc chi tiết đều được đắn đo, cân nhắc, lựa chọn bố trí ở vị trí cực kỳ đắc địa, thường là sử dụng các khoảng không gian trống của các thành phần liên kết trong kiến trúc tạo ra, đó là vùng dễ quan sát, gợi cảm, tạo không khí uy nghiêm (ở khu vực trước hậu cung) gồm những bức cốn hình tam giác cân hoặc tam giác vuông ở dươí hàng cột cái.
Các cảnh du hí, thường bố trí ở hàng thượng diệp hay hạ diệp - đình Tiên Canh (Bình Xuyên); ở thân kẻ hoặc thân bẩy đình Tiên Lữ (Lập Thạch), đình Vĩnh Sơn, đình Đông, đình Nam (Vĩnh Tường)…
Yếu tố mỹ thuật còn được thể hiện rất đậm nét, rất đặc trưng qua hệ thống đồ thờ tự trong di tích kiến trúc, ở những di tích thờ Thánh, Thần (đình, đền, miếu) hiện vật để biểu trưng được giá trị mỹ thuật là: Ngai (hay khám thờ), án gian, kiệu, y môn, cửa võng, hoành phi, câu đối. Đặc biệt, di tích đền đá Phú Đa (xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường), toàn bộ hệ thống thờ tự: Ngai ỷ, sập thờ, bát hương, đến người và vật (tượng trưng) và nhiều hạng mục kiến trúc: Cột trụ, tam cấp và toàn bộ hệ thống bia đá đều được sử dụng bằng nguyên liệu đá khối, đây là di tích duy nhất thuộc loại này ở Vĩnh Phúc. ở các ngôi chùa thì yếu tố mỹ thuật, nghệ thuật tập trung ở hệ thống tượng thờ - nơi thể hiện rõ nét nhất khả năng và trình độ nghệ thuật về điêu khắc của các nghệ nhân qua từng thời đại, bằng nhiều loại chất liệu khác nhau (gỗ, đất, đá) nhưng các pho tượng cổ đều thể hiện được cái hồn của nhân vật. Sự cân đối, hài hoà của các tư thế, sự thể hiện cái thần thông qua ánh mắt, nét mặt của từng pho tượng, từ mỗi thế kết ấn hay từ một nốt bạch ngọc hào, từng thế kiết già hay bán già, từng vị trí là phật hay là Bồ Tát thì tất cả các pho tượng

Các tin đã đưa ngày: