Duyên khởi

31/07/2013

So với các nước Trung Hoa, Nhật Bản..., Phật giáo được truyền vào Việt Nam rất sớm. Ngoài một số sử liệu được ghi lại rải rác ở các sách có tính cách nghiên cứu đại cương, chính sử hiện tại chỉ xác định được nguồn gốc Phật giáo Việt Nam từ thời Ngài Khương Tăng Hội vào khoảng thế kỷ thứ 3 tại trung tâm Luy Lâu. Nhưng ngài Khương Tặng Hội là người được sanh ra và học đạo tại Việt Nam, sau đó có thời gian Ngài đi sang giáo hoá ở Trung Quốc. Vậy thì ai là người truyền dạy Phật pháp và truyền giới cho ngài Khương Tăng Hội, hay xa hơn là nguồn gốc đầu tiên khai sinh Phật giáo Việt Nam là ở đâu? Đây vẫn còn là một nghi vấn chưa có sử liệu nào chính thức ghi lại một cách cụ thể.
Vào năm 1990, chúng tôi quyết tâm đi ra miền Bắc để sưu tầm tư liệu và cội nguồn Phật giáo Việt Nam. Chúng tôi đã lên Yên Tử, đến một số trung tâm Phật giáo quan trọng khác và sưu tầm được một số tư liệu đáng kể. Nhưng vùng Tây Thiên thuộc huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc thì không có người giới thiệu cho nên chúng tôi không biết để đến sưu tập, nghiên cứu. Sau khi xây dựng xong chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, chúng tôi nghĩ tâm nguyện làm sống lại tinh thần Thiền phái Trúc Lâm đã được toại nguyện, và coi đây là Thiền viện cuối cùng do chúng tôi chủ trương xây dựng. Bởi Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là cái nôi của Thiền phái Trúc Lâm tại chốn Tổ Yên Tử. Vì vậy, sau khi khánh thành chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xong thì chúng tôi nhập thất.
Nhưng rồi, quý vị Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc lại vào Đà Lạt trao cho chúng tôi một số tài liệu nói về vùng núi Tây Thiên và giới thiệu nơi này là cái nôi của Phật giáo Việt Nam có từ thời Vua Hùng. Đồng thời, quý vị đề nghị chúng tôi xây dựng một ngôi Thiền viện tại Tây Thiên để đánh dấu lại cội nguồn khai sinh Phật giáo Việt Nam. Thế là tâm nguyện tìm nguồn dựng cội năm xưa của chúng tôi đến nay mới đủ duyên thành tựu.
Theo nhiều sử liệu, Phật giáo có mặt tại Việt Nam trước Tây Lịch khoảng 300 năm. Sau khi kiết tập Kinh điển lần thứ 3, với sự ủng hộ tích cực của vua A Dục (Asoka) và Đại Lão Hoà thượng chủ toạ Moggalipputta Tissa, Phật giáo đã cử 9 phái đoàn đi truyền giáo khắp nơi trong và ngoài nước ấn Độ. Trong đó, đoàn thứ 8 do Ngài Sona và Uttara đến vùng Kim Địa (bao gồm nước Miến Điện, các nước Đông Dương và một số phần Mã Lai). Khi đến Việt Nam, công chúa con gái vua A Dục đã cho xây thành NêLê và tháp A Dục để đánh dấu nơi đoàn đến. Như vậy, đoàn truyền giáo này đến Việt Nam ở vùng nào? Đâylà một vấn đề còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất.
- Những người theo Claude Madrolle (Le Tonkin ancien BEFEO XXXVII (1937) 262 – 332), căn cứ theo tên thành NêLê rồi giải thích NêLê là bùn đen. Từ đó cho rằng thành NêLê ở vùng Đồ Sơn (Hải Phòng). Bởi vùng này có nhiều bùn đen.
- Có người căn cứ vào câu chuyện Chử Đồng Tử được nhà Sư Phật Quang truyền dạy Phật pháp tại núi Quỳnh Viên, ở Nam Giới hay cửa Sót mà cho rằng cái nôi của Phật giáo Việt Nam ở cửa Sót… Nhưng của Sót ở đâu, thuộc tỉnh nào vẫn chưa ai biết rõ để khẳng định một cách cụ thể. Hơn nữa, vào thời điểm đó, cửa Sót thuộc lãnh thổ Việt Nam hay Chiêm Thành.
- Có người dựa theo tư liệu Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ (viết trong những năm 360 – 420): “Thành NêLê ở phía Đông Nam huyện Định An, cách sông bảy dặm, tháp và giảng đường do Vua A Dục dựng vẫn còn. Những người đốn hái củi gọi là Kim tượng”… Đồng thời, Thuỷ Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên cho biết, “bến đò Quan tắc xuất phát từ đó. Song nó từ phía Đông huyện đi qua huyện An Định và Trường Giang của Bắc Đái. Trong sông, có nơi vua Việt Vương đúc thuyền đồng, khi nước triều rút người ta còn thấy dấu vết. Sông lại chảy về phía Đông, cách sông có thành NêLê, người ta bảo do vua A Dục dựng…”. Nhiều sử liệu cho chúng ta biết trong vòng năm thế kỷ, danh xưng Định An hay An Định cứ thay đổi nhau để chỉ có một vùng đất, một huyện của Giao Chỉ, nơi có tháp thờ vua A Dục và có thành NêLê từ thời vua A Dục (khoảng năm 300 TTL).
- Có người cho rằng, từ NêLê không phải là bùn đen. Vì nếu Nê là bùn, Lê là đen thì theo văn phạm Hán văn phải gọi là LêNê, chứ không phải là NêLê. Hơn nữa, cụm từ NêLê trong Hán văn thường đựơc hiểu đến là một cụm từ dùng để phiên âm chữ Naraka (tiếng Phạn), có nghĩa là Địa ngục. Các vị này căn cứ theo Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn mô tả về chùa Địa Ngục ở Tây Thiên. “… chùa bên phải này vuông vắn phỏng hơn một trượng, tường nhà toàn bằng đá, hai bên cánh cửa khoá chặt lại bằng khoá sắt lớn, trên viên đá khắc chữ Triện là ‘Địa Ngục Tự’, không biết dựng từ đời nào…” Lại nữa, theo ngọc Phả Hùng Vương ghi: “Có lần vua Hùng Vương thứ 7 là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo cầu tiên thì nghiễm nhiên đã thấy chùa thờ Phật”… Trên những cơ sở đó mà cho rằng, thành NêLê ở tại Tây Thiên và Tây Thiên là cái nôi của Phật giáo Việt Nam.
Theo chúng tôi danh từ Tây Thiên còn có ý nghĩa để chỉ nơi mà chư vị Tổ sư người ân đầu tiên sang Việt Nam truyền bá Phật pháp. Vì theo trong kinh, từ ngư Tây Thiên hay Tây Trúc là chỉ cho nước ấn Độ, cũng như từ ngữ Đông Đô được dùng để chỉ nước Trung Hoa. Kết hợp với những dữ liệu trên, chúng tôi cho rằng: Tây Thiên là cái nôi của Phật giáo Việt Nam có từ thời vua Hùng. Do vậy, chúng tôi sai đệ tử ra tham quan khảo sát địa hình quần thể khu di tích Tây Thiên rồi chọn một nền chùa cổ để xây Thiền viện.
Ngày nay, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên được hình thành trên phế tích của một nền chùa cổ có tên là Thiên ân Thiền Tự. Đây cũng là nhân duyên của Thiền Phái Trúc Lâm với chốn Tổ ở Tây Thiên. Chúng tôi mong rằng, ngoài chức năng trùng hưng lại một trung tâm Phật giáo Việt Nam thời Hùng Vương, góp phần tôn tạo cảnh quan cho khu di tích danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên còn là một Thiền viện tạo tiền đề cho những công trình nghiên cứu, khai quật kế tiếp sau này ngỏ hầu làm sáng tỏ giá trị của Phật giáo Tây Thiên, cái nôi của Phật giáo Việt Nam. Qua đó, Thiền phái Trúc Lâm đã cùng với Giáo Hội góp phần phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam. Đây là duyên có khiến chúng tôi quan tâm đên Tây Thiên và cho tiến hành xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên trong thời gian nhập thất

Thiền sư Thích Thanh Từ.

Các tin đã đưa ngày: