Nghĩ về kiến trúc ngôi chùa Việt Nam trong thiên niên kỷ mới

31/07/2013

Trích lời dẫn tạp chí Kiến trúc của Hội kiến trúc sư Việt Nam số ra tháng 2/2005: Năm 1960 Hoà thượng Thích Thanh Từ viết cuốn “Phật giáo trong mạch sống dân tộc” nói lên sự gắn bó đặc biệt của Phật giáo với lịch sử dân tộc, tinh thần yêu nước thương nòi. Hoà thượng chủ xướng việc xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, một sự hướng vọng về cội nguồn Phật giáo Việt. Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt đã trở thành một danh lam trên vùng đất hồ Tuyền Lâm. Mô hình Thiền viện Đà Lạt đã được nhân lên ở một số địa phương, thậm chí ở một số nước.
Thiền viện Yên Tử được xây dựng cách nay ngót 2 năm trên đất Trúc Lâm huyền thoại. Người chủ trì thiết kế, tổ chức thi công và lo toan mọi thủ tục là Thượng toạ Thích Kiến Nguyệt. Nay Thượng toạ lại chỉ đạo tiếp điều hành thi công Thiền viện Tây Thiên ở vùng núi Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Ban biên tập Tạp chí Kiến trúc có gợi ý Thượng toạ chia sẻ suy nghĩ về việc xây dựng các thiết chế kiến trúc Phật giáo thời nay, để các đồng nghiệp kiến trúc sư chúng ta tham khảo.
Đất nước sau những năm mở cửa, kinh tế phát triển cuộc sống người dân ngày càng nâng cao, nhiều ngôi nhà cao tầng, biệt thự vườn xinh đẹp mọc lên khắp nơi, tạo thành những khu đô thị mời từ thành phố cho đến xã, thôn, thay thế những ngôi nhà cấp 4, thấp, nhỏ thô sơ… đô thị hoá dần nếp sống nông thôn. Từ đó nhiều ngôi chùa, đình, đền cũng đựơc nhân dân cùng nhà nước trùng tu tôn tạo lại. Những hư hỏng được tu tạo, tôn sửa lại theo kiến trúc cũ để bảo tồn di tích văn hoá, mang dấu ấn kiến trúc, trình độ mỹ thuật, nền văn hoá ở thời đại của lịch sử dân tộc, là một điều đúng đắn, phải làm.
Nhưng nếu một di tích ở một thời xa xưa này là phế tích, chỉ còn nền chùa, hay một vài tấm vách đứng trơ vơ cùng cây cỏ hoang vu, thì chúng ta nên xây dựng lại như thế nào? Nên mang dấu ấn kiến trúc mỹ thuật của 1 ngôi chùa cổ ở thế kỷ 16-17 hay mang dấu ấn kiến trúc của thời đại chúng ta hôm nay?
Theo chúng tôi ngồi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của Phật giáo, trước nhất nó phải thể hiện được tinh thần giáo lý của đạo Phật, sau đó đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ ở thời đại đó. Về kiến trúc nó phải mang bản sắc văn hoá dân tộc có tính kế thừa và phát huy theo tiến trình phát triển văn hoá, văn minh của dân tộc ở từng thời điểm. Do vậy trước khi bàn về kiến trúc ngôi chùa Việt Nam chúng ta không thể không nhắc lại tinh thần giáo lý của đạo Phật. Trên cơ sở đó chúng ta duyệt xét cái đúng cái sai, đúng thì kế thứa phát huy, sai thì sửa bỏ.
Về tinh thần Phật giáo
Về tín ngưỡng theo Auguste Comte (1789-1857) nhân loại trải qua 3 thời kỳ tín ngưỡng:
Thời kỳ thần học: con người chưa văn minh, chưa giải thích được những hiện tượng mưa, gió, sấm, chớp, tinh tú, … nên cho rằng do thần linh tạo ra, từ đó họ tôn thờ thần mưa, thần gió, thiên lôi, gốc cây, hòn đá, cúng sao giải hạn,…
Thời kỳ siêu hình học: con người dùng những thuật ngữ siêu hình, hoặc những lý thuyết trừu tượng để giải thích những hiện tượng thiên nhiên.
Thời kỳ khoa học thực nghiệm: mọi lĩnh vực của đời sống được con người dùng khoa học làm thước đo giá trị. Vì vậy các nhà Duy vật biện chứng đã lên án gay gắt đối với các tôn giáo nặng về thần quyền và mê tín. Nhưng đối với Phật giáo thì một số nhà khoa học đã có những nhận định ngược lại với quan điểm trên. Nhà khoa học nổi tiếng của thế kỷ 20 là Albert Einstein – Nhà vật lý học người Mỹ gốc Do Thái cha đẻ thuyết tương đối, được giải Nobel Vật lý về Quang điện (Photoelectric) năm 1921. ông đã nhận định về Phật giáo như sau:
“Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó chính là Phật giáo. Phật giáo không cần phải duyệt xét lại hầu cập nhật hoá với những khám phá khoa học mới đây. Phật giáo không cần phải bỏ quan điểmcủa mình để theo khoa học, vì Phật giáo không những đã bao gồm cả khoa học, mà còn vượt qua cả khoa học nữa”
Theo Albert Eintein thì PG là khoa học – vì Phật giáo nói lên bản chất của sự vật đúng lẽ thật (như thị). Về vũ trụ cách nay hơn 2500 năm Đức Phật không nói do một đấng quyền năng nào tạo ra, mà do nhân duyên sinh, Ngài cho biết trong vũ trụ có “Hằng hà sa số tinh tú”, trong nước, trong cơ thể người có nhiều vi trùng (bát vạn từ thiên trùng). – Ngày nay khoa học đã minh chứng lời Đức Phật nói.
Trên cơ sở nào ông nói Phật giáo bao hàm và vượt trên khoa học? – Vì những thành tựu, phát minh của khoa học hiện nay và trong tương lai đều không thoát ra khỏi “lý duyên sinh vô ngã của Phật giáo”. Xét về thành tựu của khoa học thì hiện nay khoa học chỉ biết được những qui luật tương tác giữa vật với vật, còn qui luật tương tác giữa tâm với vật, hay giữa tâm với tâm, cũng như về triết lý “tách không” của Phật giáo thì khoa học chưa với tới.
Từ đó, xét về hiện trạng Phật giáo ở nước ta tinh thần của phật giáo và lời nhận xét của Albert Einstein chưa? Nếu chưa thì hiện trạng Phật giáo nước ta đang ở vào thời kỳ nào của tín ngưỡng theo August Comte?
- Đức Phật không xưng Ngài là đấng quyền năng, Ngài nói “ta không ban phước giáng hoạ cho người”. Thế mà đa số Phật tử ngày nay đến chùa chỉ biết cúng vãi cầu xin việc làm này có đúng với tinh thần của PG không?
Theo đạo Phật, Phật không phải là đấng quyền năng, Phật là tâm thanh tịnh, giác ngộ, giải thoát. Nên Phật dạy “ngoại tâm cầu Phật danh vi ngoại đạo” (ngoài tâm mà cầu Phật đó là ngoại đạo), nên người Phật tử chỉ biết cúng khấn cầu xin là tu sai theo chính pháp của Phật.
Trên tinh thần đó xét những ngôi chùa cổ hiện nay chỉ thích hợp với Phật giáo ở thời kỳ thần học. Ngôi chùa chia làm nhiều gian, nhiều cột, nhiều ban thờ, nhiều cốt tượng, mái thấp, tối om om, khói nhang nghi ngút thích hợp với chốn thần quyền linh thiêng. Trong khung cảnh linh thiêng đó người Phật tử đến chùa dễ quên mất bản tâm mình, thường hướng ngoại, cúng vái cầu xin Phật, Bồ tát, chư thần ban phước, lộc hoặc cầu xin tai ách được tiêu trừ mà quên đi lời Phật “ ta không ban phước giáng hoạ đựơc cho người”. Chúng ta đã biêt Đức Phật là thầy của người cõi trời (hằng đêm chư thiên thường đến cúng dường cầu pháp với Phật) cõi trời trên cõi thần (Atula). Phật không ban phước giáng hoạ được, vậy trời, thần có làm được không? Vậy, việc cúng vái cầu xin có kết quả không và có đúng với tinh thần của đạo Phật không?
- Chùa là nơi giảng dạy Phật pháp, giúp cho người Phật tử nhận được tâm mình (Phật tại tâm), từ đó tu tập để chuyển hoá nội tâm tham - sân – si phiền não, độc ác, chấp ngã, … trở thành người có trí tụê, có tâm thanh tịnh, giác ngộ giải thoát thành Phật. Vì vậy, theo chúng tôi trong chùa chỉ nên thời một tượng Phật (Đức Thích Ca Mâu Ni), là bậc đạo sư đã chỉ cho chúng ta con đường tu hành đi đến giác ngộ giải thoát. Thể tách của chư Phật đều giống nhau không hình tướng, trùm khắp, nên chúng ta có thờ một hay nhiều cốt tượng cũng là biểu trưng cho đấng toàn giác.
Do vậy có nên thờ nhiều cốt tượng không? Có vị Tổ sư nói: Thờ cốt tượng, không bằng thờ kinh sách, thờ kinh sách không bằng thờ ông thầy dạy đạo, thờ ông thầy dạy đạo không bằng thờ bản thân mình.
Cho nên trong chùa thờ nhiều cốt tượng sẽ khiến cho người ta lễ lạy nhiều để khấn vái cầu xin đấng quyền năng ở bên ngoài, Phật nói là “ngoại đạo” là tín ngưỡng thần quyền, không phải là đạo Phật của thời khoa học thực nghiệm.
Nếu cần thờ hai bên, thì bên trái thờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, biểu trưng cho trí tuệ hay căn bản trí. Vì đạo phật là đạo lẫy trí tuệ giác ngộ làm cứu kính đời tu (trong chùa thường ghi câu “Duy tuệ thị nghiệp”), bên phải thờ Bồ Tát Phổ Hiền, tượng trưng cho hạnh nguyện độ sinh, khi có trí tuệ rồi cần phải có hạnh nguỵên lớn để vượt qua mọi thử thách gian lao, để cứu độ chúng sinh. Các hình tượng thờ trong chùa là để nhắc nhở chúng ta lấy trí tuệ giác ngộ làm cứu cánh, sau khi có trí tuệ lấy trí tuệ rồi thì phải phát nguyện, lập hạnh lớn để cứu độ giáo hoá chúng sinh. Khi tuệ giác và công hạnh viên mãn thì sẽ chứng ngộ Phật quả.
Xét về mặt kiến trúc mỹ thuật Phật giáo
Để đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt Phật giáo cho nhân dân, thì ngôi chùa phật giáo hiện nay cần phải cao, rộng, thoáng như một hội trường, để bảo đảm môi trường vệ sinh, đủ ôxy thở, có đủ không gian cho Phật tử đến sinh hoạt tụng kinh, hành thiền: ngồi nghe pháp mà tâm không bực bội, mắt không vướng tầm nhìn bởi nhiều gian, nhiều cột. Ngày xưa vì xây dựng vật liệu bằng gỗ, nên phải nhiều cột, nay xây dựng bằng bê tông cốt thép nhiều chùa vẫn xây nhiều gian nhiều cột trông nó chẳng hợp lý chút nào.
Sau cùng, xét về mặt văn hoá bản sắc dân tộc. Có phải ngôi chùa nào có kiến trúc thời Lê Nguyễn mới là bản sắc văn hoá dân tộc nên phải xây theo kiểu mẫu đó? Có chắc gì kiến trúc đó “không lai Tàu”?
Đọc lịch sử chúng ta đã biết, thời Nguyễn chịu ảnh hưởng nhà Thanh (Trung Quốc) rất nhiều, bên kia có Đại Thanh Nhất Thống Chí, bên này có An Nam Nhất Thống Chí, bên kia có bộ luật Hồng Đức, bên này có bộ luật Gia Long chép y luật Hồng Đức, cho đến hai thời khoá tụng của các chùa ngày nay cũng xuất phát từ thời nhà Thanh, do vua nhà Thanh sai hoà thượng Hoàng Long biên soạn rồi buộc các chùa ở Trung Quốc phải thống nhất tụng theo, chùa chiền Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nên lấy nghi thức đó làm hai thời khoá công phu đầu hôm vừa giữa khuya trong chùa, rồi truyền tụng mãi cho đến bây giờ.
Nếu có chắc gì kiến trúc chùa chiền thời đó hoàn toàn Việt Nam không? và có nên lấy đó làm mẫu mực cho kiến trúc Phật giáo Việt Nam không?
Thứ nữa, tại sao thời Nguyễn khi trùng tu tôn tạo lại những ngôi chùa cổ thời Lý Trần, họ không xây dựng theo kiến trúc Lý Trần mà xây dựng theo thời nhà Nguyễn, và bây giờ chúng ta xây dựng mới trên nền di tích có nên xây theo kiến trúc thời Lê Nguyễn hay xây theo kiến trúc ngôi chùa Việt Nam ở thế kỷ 21 này?
Xét về mỹ thuật hoa văn trang trí, chúng ta cũng nên có những hoa văn biểu trưng cho giáo lý nhà Phật mang dấu ấn của thời đại chúng ta. Nhiều chùa hiện nay gắn hoa văn trang trí thường hay bắt chước chùa khác mà không tìm hiểu ý nghĩa có đúng theo giáo lý nhà Phật không? Theo chúng tôi nó tạp nham - đa thần giáo. Trên nóc chùa để vòng nhật nguyệt, âm dương, biểu trưng của Dịch, của Lão, hay ngọn lửa biểu trưng của đạo thờ lửa, hoặc rồng phụng biểu trưng của cung đình. Rồng là súc sinh đặt lên nóc chùa trên đầu Phật có đúng không?
Chúng tôi thiết nghĩ Phật giáo cũng có những văn hoa đẹp có ý nghĩa sao chúng ta không dùng như: bánh xe pháp, đặt ở nơi thờ Phật, để chỉ nơi chuyển pháp luân. Vân mây tượng trưng cho sự vô thường của các pháp (các pháp tuỳ duyên sinh, tuỳ duyên duyệt). Hoa sen, lá bồ đề biểu trưng sự giác ngộ, giải thoát,…
Nói tóm lại, ngôi chùa mới mang bản sắc văn hoá dân tộc hoành tráng uy nghiêm, rộng thoáng như một hội trường, bên trong thờ một tượng Phật, hai tượng bồ tát là đủ. Cách tôn trí nhiều cốt tượng trong chùa chỉ thích hợp với Phật giáo ở thế kỷ 16-17, thời tín ngưỡng thần quyền, không còn thích hợp với ngôi chùa Phật giáo ở thời khoa học hiện đại theo chính pháp của Phật - tin tâm mình là Phật.
Trên đây là những cảm nghĩ theo cái nhìn của chúng tôi dưới góc độ nhà tu hành, về kiền trúc ngôi chùa Việt Nam mang dấu ấn trí tuệ của thời đại chúng ta hôm nay.


Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt

Các tin đã đưa ngày: