Diễn văn khai mạc Lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên

31/07/2013

Kính thưa liệt quí vị,
Thật là một duyên lành cho Thiền phái Trúc Lâm, hôm nay được đón tiếp chư liệt quí vị giữa vùng núi non cao đẹp của khu “Di tích Danh thắng Tây Thiên”. Hôm nay cũng là ngày Thanh minh, là ngày mọi người trong họ tộc qui tụ về để tảo mộ và nhắc nhở ơn đức của Tổ tiên, là ngày Đức Phật nhập Niết bàn, còn chúng ta là “con rồng cháu tiên” của nước Văn Lang, vân tập về đây để khôi phục lại chốn Tổ, một phế tích của Phật giáo, để làm sáng tỏ thêm về nguồn gốc lịch sử Phật giáo Việt Nam …
Theo sự hiểu biết hạn hẹp của chúng tôi, thì khu Di tích Danh Thắng Tây Thiên có thể nói là “cái nôi của Phật giáo Việt Nam”. Đây là một vấn đề mới đặt ra cho các nhà khoa học, các nhà Sử học Phật giáo Việt Nam, để tâm nghiên cứu, làm sáng tỏ vấn đề này.
- Theo ngọc phả Hùng Vương đã ghi: “Có lần vua Hùng Vương thứ 7 là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo cầu Tiên thì nghiễm nhiên đã thấy có chùa thờ Phật…” Và cũng theo sử liệu còn lại thì “từ thời các Vua Hùng Vương tại Tây Thiên đã có ba ngôi chùa cổ tên là: Hoa Long Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự, Tây Thiên Thiền Tự…” Qua đó chúng ta thấy cả ba ngôi chùa đều có tên là Thiền Tự, và hiện nay trên nền chùa cũ ở Đền Thượng, người ta đã đào được 3 bia đá trên đó ghi: Võng Sơn Thiền Sư; Cúc Khê Thiền Sư; Giác Linh Ngã. Điều này cho phép chúng ta kết luận từ thời Hùng Vương, Phật giáo Việt Nam đã có những vị Thiền sư truyền Thiền.
Vào thời Hùng Vương, có thể nói lãnh thổ chính của nước Văn Lang chỉ bao gồm các tỉnh thuộc miền trung du Bắc Việt: Phú Thọ, Việt Trì, Vĩnh Phúc hiện nay. Nếu xét về mặt địa thế thì vùng này núi non thấp và rải rác, chỉ có khu vực Tây Thiên Tam Đảo này mới có núi non liên hoàn, rừng thâm u rập rạp, có suối chảy, thác cao, … cảnh trí u nhã, thanh tịnh, thích hợp cho người tu Thiền, hoặc những ai muốn xuay trở về sống với nội tâm thanh tịnh, tìm cầu giác ngộ giải thoát, cho nên các Thiền sư về đây ẩn tu, dựng lập các Thiền tự.
Việt Nam Phật giáo Sử luận của tác giả Nguyễn Lang đã ghi: Thiền học Việt Nam khởi đầu bằng Khương Tăng Hội. Ngài không chỉ là sáng Tổ của Thiền học Việt Nam, mà còn là người đem Thiền học truyền sang Trung Quốc. Cha Ngài người nước Khương Cư (Sogdiane) mẹ người Việt. Năm 10 tuổi, cha mẹ mất sớm Ngài gởi thân vào chốn Thiền môn, rồi sau đó xuất gia tu hành. Ngài đã dịch kinh “An Ban Thủ ý” là pháp tu Thiền của đạo Phật. Nhưng Ngài tu ở đâu? Tam sư thất chứng truyền giới cho Ngài là những vị nào và tại đâu không thấy sử liệu ghi chép? Có thể ở Tây Thiên này chăng?
Theo thiển nghĩ của chúng tôi, có thể Ngài Khương Tăng Hội, xuất gia tu hành ở khu Di tích Danh thắng Tây Thiên này.
- Vì theo sử liệu, các nhà sư ấn Độ đi truyền bá đạo Phật đầu tiên đến Việt Nam bằng đường biển, rồi theo cửa sông đi ngược dòng sông Hồng đến nước Văn Lang, có lẽ khi đến vùng danh thắng Tây Thiên thấy núi non trùng điệp, cảnh rừng thanh vắng, nên các Ngài dừng chân, chọn Tây Thiên làm chỗ tu hành sau đó tuỳ duyên mà hoá độ chúng sinh.
Danh tự Tây Thiên, nghĩa đen là Trời Tây, đối với Phật giáo, nó được dùng để chỉ nước ấn Độ, nơi phát sinh ra đạo Phật cứu khổ cho nhân loại. Trong bài kệ truyền pháp của Ngài Vô Ngôn Thông có nói:


Rằng thuỷ Tổ ta
Gốc ở Tây Thiên
Truyền kho pháp nhãn
Được gọi là “Thiền”…


Từ đó cũng cho phép chúng ta nghĩ: Danh tự Tây Thiên nếu do các nhà tu hành đặt thì Tây Thiên có ý nghĩa là nơi phát sinh ra đạo Phật đầu tiên ở nước ta thời các vua Hùng.
Trên cơ sở đó mà chúng tôi cho rằng: Tây Thiên là cái nôi của Phật giáo Việt Nam, mặc dù trước đó có thể có một vài nhà sư người ấn đến nước ta tu hành truyền đạo, ban đầu sống ở một nơi nào đó có đồi núi thấp, sau khi đến vùng Vĩnh Phúc gần kinh đô nước Văn Lang, dân cư đông, lại có Tây Thiên cảnh trí đẹp, núi non thâm u hùng vĩ, giống “cảnh Phật” (Tây Thiên) ở ấn Độ nên các ngài dừng chân tại đây để hành đạo. Rồi Tăng đoàn phát triển, giới đàn được thành lập để truyền đại giới cho người xuất gia… sau đó lan toả ra khắp nơi trong và ngoài nước (Ngài Khương Tăng Hội sang truyền đạo ở Trung Quốc).
Đến thế kỷ thứ 6, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Trung Quốc truyền sáng nước ta bằng đường bộ. Rồi đến thế kỷ thứ 9, dòng Thiền Vô Ngôn Thông cũng từ Trung Quốc truyền sang. Đến thế kỷ thứ 11, nước ta có thêm Thiền phái Thảo Đường. Như vậy cả 3 dòng Thiền này đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta. Mãi đến thế kỷ thứ 13, sau khi vị Hoàng đế anh hùng của dân tộc là vua Trần Nhân Tông đi tu ở Yên Tử, ngộ đạo rồi dung hợp 3 phái Thiền tạo thành Thiền phái Trúc Lâm, mang bản sắc văn hoá của dân tộc Đại Việt thời bây giờ, từ đó chúng ta mới có dòng Thiền Việt Nam đầu tiên. Với tài tổ chức về hành chính của một đấng minh quân, Ngài thống nhất Phật giáo, lập sổ Tăng tịch cho tu sĩ, thành lập giáo hội, rồi Giáo Hội Phật giáo Việt Nam đầu tiên ra đời… Vào thời kỳ này Tăng Ni rất đông, cho nên Tây Thiên chắc chắn có mặt của Thiền phái Trúc Lâm.
- Ngày 24.3.2004, Bảo Tàng Lịch Sử tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức họp báo để công bố kết quả khảo cổ đã tìm thấy ở khu Di tích Danh thắng Tây Thiên – những di chỉ gồm: gốm sứ, sành, đất nung thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn, có rất nhiều… nhất là những mảnh tháp thờ Phật làm bằng đất nung, đã tìm thấy ở khu di tích Yên Tử, tại đây có rất nhiều, những mảnh này là dấu ấn của Phật giáo thời Trần, nói khác đi là của Thiền phái Trúc Lâm. Điều này cho phép chúng ta suy ra rằng: - Có thể khi đất nước mở rộng diện tích, thì các Thiền sư phát hiện ở vùng đồng bằng Bắc Việt cũng có dãy Đông Triều cảnh trí giống Tây Thiên, nên các Ngài lên núi Yên Tử tu hành, rồi đặt tên cho cảnh trí mới. Vì tại Tây Thiên có suối Bát Nhã, cũng có am Vân Tiêu, chùa Đồng Cổ, bên Yên Tử có suối Giải oan, am Vân Tiêu, chùa Đồng,…
Hiện nay toàn xã Đại Đình, có ba ngôi nhà thờ lớn, nhưng chưa có một ngôi chùa nào để cho Phật tử nương theo tu hành. Nay thể theo tâm nguyện tha thiết của nhân dân địa phương, và được sự cho phép của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, lãnh đạo Đảng uỷ, Uỷ ban Tỉnh, cùng các cơ quan chức năng Ban Ngành nhà nước, chúng tôi về Tây Thiên xây dựng Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên để thắp sáng lại ngọn đèn Thiền tông Việt Nam tại nơi cội nguồn của dân tộc, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, tôn vinh giá trị phi vật thể của Tây Thiên.
Tinh thần Thiền tông đời Trần là một tư tưởng đạo đức lớn của ông cha ta, các Ngài đã lấy thân giáo “xem ngai vàng như dép rách” để nêu gương cho Tăng Ni và Phật tử tu theo, để dạy cho nhân dân và con cháu mai sau “Hãy sống đời đạo đức (tu Thập Thiện), để được quả phúc lành trong hiện đời và đời sau”. Nhờ truyền thống văn hoá đạo đức đó mà dân tộc ta còn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Nếu ông cha ta không khéo giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc ta cũng như các bộ tộc khác thời bây giờ, có thể bị tiêu diệt hay bị đồng hoá theo luật nhân quả tuần hoàn của vũ trụ.
Do nhận thức đựơc giá trị sâu sắc về tư tưởng đạo đức và đường lối tu hành của Thiền phái Trúc Lâm – “Tin tâm mình là Phật, hay Phật tại tâm” mà chúng tôi về đây để cùng với Giáo Hội Phật giáo Việt Nam thắp sáng ngọn đèn chánh pháp tại chốn Tổ Tây Thiên, xây dựng lại chiếc nôi của Phật giáo đã có từ thời dựng nước, để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cho nhân dân và Phật tử hành hương về Tây Thiên trong thiên niên kỷ mới này.
Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ngoài trách nhiệm dựng lập lại một chứng tích của Phật giáo, trên mảnh đất vua Hùng dựng nước trước kia, nó còn khẳng định cho nhân dân và thế giới biết: Dân tộc Việt Nam từ thời các vua Hùng đã biết tu Thiền, và đạo Phật vào Việt Nam trước thế kỷ thứ 2 (sớm hơn Trung Quốc).
Về mặt kiến trúc, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ mang dấu ấn của thời đại chúng ta, đến với các thế hệ mai sau. Qua kiến trúc, người sau sẽ thấy được nền văn hóa văn minh dân tộc Việt Nam luôn luôn biết chọn lọc kế thừa, phát huy và biết giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, không dập khuôn, bắt chước, không phải “xưa sao nay vậy”… Đó là tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm, có như vậy chúng ta mới xứng đáng là con cháu của Tổ tiên và mới theo kịp đà tiến hoá của nhân loại. Trên tinh thần đó, về mặt kiến trúc Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ mang dấu ấn của ngôi chùa Việt Nam ở thiên niên kỷ mới này, chứ không phải là ngôi chùa ở thế kỷ 16 hay 17.
Chúng ta phải nhìn nhận, những ngôi chùa cổ hiện nay còn lại ở nước ta rất đẹp, chẳng những đối với thế kỷ 16 và 17 mà còn đẹp đối với thế hệ chúng ta. Nhưng không vì thế mà chúng ta giữ nguyên trạng mãi, vì nhu cầu sinh hoạt, việc hoằng pháp ở mỗi thời đại khác nhau… Do đó chúng ta có bổn phận giữ gìn những di sản vô giá của quốc gia, bảo vệ những cổ vật của Tổ tiên để lại, nhưng nếu phải xây dựng lại mới hoàn toàn thì không cứ gì về ngôi chùa mà ngay cả nhà dân, cho đến công sở, dinh thự đều phải mang dấu ấn kiến trúc của thời đại văn minh của chúng ta, để phản ánh trình độ văn hoá kiến trúc đương đại cho các thế hệ mai sau.
Về mặt cảnh quan, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ góp phần cùng với địa phương xây dựng một danh lam thắng tĩnh cho Tây Thiên nói riêng, cho tỉnh Vĩnh Phúc và đất nước Việt Nam nói chung. Trên tinh thần đó, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ là một điểm tham quan du lịch mới cho cả nước về du lịch văn hoá tâm linh, hành hương hay dã ngoại.
Là nơi lưu giữ những cổ vật của Phật giáo tại Tây Thiên, để giới thiệu về sự phát triển của Phật giáo Việt Nam từ thời vua Hùng dựng nước cho đến ngày nay, qua đó giáo dục lòng yếu nước và niềm tự hào của dân tộc.
Là cóự hội khuyến khích Phật tử trong nước và hải ngoại trở về tìm hiểu nguồn gốc tu hành của Tổ tiên mình, thăm lại quê hương đất Tổ (đền Hùng), để tìm hiểu về nguồn gốc về lịch sử của dân tộc, thấy được quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển của dân tộc thật hào hùng và kỳ diệu, rồi viếng đền Hai Bà Trưng để thấy được tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam, điều mà ít thấy ở các nước khác. Qua đó nhận thức sâu sắc về bản sắc Văn hoá Đại Việt – không trọng nam kinh nữ hay ngược lại như một số nước khác. Từ đó, Phật tử về đây sẽ hiểu rõ thêm nguồn gốc đạo đức của “con Rồng cháu Tiên”.
Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ cùng với khu du lịch Tam Đảo góp phần phát triển kinh tế cho nhân dân địa phương, đồng thời cùng Giáo hội Tỉnh xây dựng Phật pháp trong lòng dân tộc.
Trong ngày vui của toàn thể Tăng Ni và Phật tử hôm nay, trước khi tiến hành nghi lễ đặt đá, chúng tôi trân trọng kính chúc liệt quý vị thân tâm thường an lạc.
Kính chào liệt quý vi.

Thiền sư Thích Thanh Từ

Các tin đã đưa ngày: