VĂN TỪ CẤP HUYỆN CẤP TỔNG VÀ VĂN CHỈ CẤP XÃ Ở VĨNH PHÚC

01/08/2013

Văn từ cấp huyện cấp tổng và Văn chỉ cấp xã ở Vĩnh Phúc là sự phát triển tiếp nối của Văn miếu cấp phủ của phủ Tam Đới. Sự xuất hiện của hai cấp độ này đã làm hoàn thiện cho hệ thống Văn miếu Văn từ Văn chỉ trên địa bàn tỉnh.
3.1. Văn từ cấp huyện

Kết quả điều tra qua nguồn tài liệu văn bia cũng như thư tịch của chúng tôi cho thấy, toàn tỉnh Vĩnh Phúc trước đây có 4 Văn từ hàng huyện, thuộc các huyện sau đây.

Văn từ huyện Bình Xuyên:
Khởi thủy của tên huyện Bình Xuyên là Bình Lệ Nguyên có từ thời Trần, đến niên hiệu Hồng Đức đổi thành Bình Tuyền thuộc phủ Phú Bình trấn Thái Nguyên. Năm 1822, vua Minh Mệnh ra đạo dụ chuyển huyện Bình Tuyền về phủ Vĩnh Tường. Năm sau, 1831, vua ra tiếp đạo dụ thành lập phân phủ Vĩnh Tường (bao gồm 2 huyện Yên Lãng và Yên Lạc). Năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) ra đạo dụ đổi Bình Tuyền thành Bình Xuyên (do kiêng huý chữ Tuyền - tên của vua Thiệu Trị), cho lệ vào tỉnh Thái Nguyên. Đến năm 1840, huyện Bình Xuyên được cắt hẳn về tỉnh Vĩnh Yên.
Căn cứ để xác định Văn từ của huyện Bình Xuyên là dựa vào bài ký khắc trên bia hiện đặt tại vườn chùa, phía sau đình thôn Đức Cung, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, do VNCHN sưu tầm vào năm 1998, mang ký hiệu No. 39265- 6.
Bia gồm 2 mặt, khổ 66 x 94 cm, trán bia mặt trước chạm đôi rồng chầu mặt nguyệt, xung quanh mây nổi, hai góc trên trán khắc hoa văn hình học. Diềm thân bia và đế bia chạm hoa văn thực vật, với đường nét uyển chuyển, tinh tế. Lòng bia khắc 17 dòng chữ Hán, tổng cộng khoảng 400 chữ, chữ khắc chân phương, dễ đọc. Mặt sau bị mờ mòn, chỉ đọc được họ tên của một số vị trong Hội Tư văn tham gia xây dựng Văn từ của huyện.
Văn bia do Phạm Quý Thích1 soạn, dựng vào năm Minh Mệnh thứ 2 (1821).
Mở đầu bài ký, Phạm Quý Thích nói việc thờ Tiên thánh Tiên hiền là nhằm “biểu dương khuôn phạm cho đời trước, vun trồng thanh danh cho đời sau, có quan hệ với phong tục phồn thịnh”, khẳng định “Nước Hoàng Việt ta từ xưa đã xưng là nước văn hiến, trên từ kinh đô cho đến các lộ đều thiết lập trường học, năm tháng phụng thờ Tiên thánh, dưới có các huyện ấp phần nhiều đều lập Từ chỉ để phụng thờ Tiên hiền”.
Sau đó ông cho biết: “Thái Nguyên tuy gọi là ngoại trấn nhưng trước đây có tiếng là châu danh giáo vậy. Thời Lê Trung hưng cũ, có các vị khoa danh hoạn nghiệp, trải các đời đều có thể khảo rõ ràng. Trải đến nay người đi học không hề thiếu, nên việc thờ Tiên hiền cũng chưa bao giờ bị phế bỏ. Huyện Bình Tuyền trước đây chưa có Từ chỉ, còn các thôn ấp trong huyện, tùy từng nơi mà lập đàn tế. Thời gần đây mới đổi thành thờ Tiên thánh mà chọn địa điểm tại thôn Đức Cung xã Linh Quang trong địa hạt của huyện làm nơi tế lễ theo năm tháng”.
Cuối bài ký, ông nói vắn tắt: “Cảnh tượng Từ chỉ mới mẻ, cung tường trang nghiêm”, giúp nhân sĩ trong huyện “chọn nhân nghĩa mà chuộng bạn hiền, giữ điều thiện làm thầy, như thế tác thành nhân tài mà làm đẹp cho phong tục, để từ nay về sau, nhân sĩ ở phương này đương cùng hiền sĩ ở trung châu gia sức đua tranh vượt lên trên, không thẹn với thời vậy”.
Như vậy, qua bài ký thì thấy trước đây huyện Bình Tuyền chưa lập Văn từ, đến năm 1821 mới khởi dựng, đặt địa điểm nêu trên, do các ông Dương Tuấn Ngạn, Nguyễn Duy Kỳ, Vũ Đình Sủng cùng mọi người trong Hội Tư văn bản huyện đảm nhận. Quy mô không nói rõ nhưng ta có thể thấy đó chỉ là một tòa nhà lấy làm nơi thờ Tiên thánh của đạo Khổng. Hiện trạng của ngôi Văn từ này từ đó trở về sau ra sao hiện chưa rõ.

Văn từ huyện Lập Thạch:

Tên huyện Lập Thạch có từ thời Trần trở về trước và tồn tại đến tháng 1 năm 2009 thì tách làm hai, thành huyện Sông Lô và huyện Lập Thạch.
Tư liệu đề cập đến Văn từ của huyện Lập Thạch hiện thời là một văn bia nhưng không chứa đựng thông tin nào ngoài danh sách họ tên, quê quán của 22 vị đỗ đại khoa người bản huyện. Bên lề của thác bản văn bia (No.15503) ghi dòng chữ: Vĩnh Yên tỉnh Lập Thạch huyện Sơn Bình tổng Sơn Bình xã bản huyện Văn từ bi, cho biết đây là văn bia dựng tại Văn từ của huyện Lập Thạch đặt tại xã Sơn Bình tổng Sơn Bình. Văn từ của huyện dựng vào thời gian nào, quy mô ra sao vẫn còn bỏ ngỏ.


Văn từ huyện Vĩnh Tường:

Tên huyện Vĩnh Tường ra đời vào năm 1946, khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành cải cách hành chính xóa bỏ cấp tổng và cấp phủ, còn lại hành chính bốn cấp: xã, huyện, tỉnh và trung ương. Trước đó với tên là Bạch Hạc mà theo Đại Nam nhất thống chí cho biết tên huyện Bạch Hạc ra đời vào đời Lê Quang Thuận (1460 - 1469), gắn với sự tích “có cây chiên đàn, chim hạc trắng đậu trên cây nên đặt tên như thế”1.
Văn từ huyện Vĩnh Tường không thấy ghi lại trên văn bia nhưng được nhắc đến qua nguồn tài liệu Xã chí.
Xã chí nằm trong mảng Địa phương chí vốn định hình từ lâu, song song với nó còn có mảng Quốc chí, tức tài liệu ghi địa chí chung cho cả nước. Duy mảng Xã chí nói đến ở đây vốn định hình muộn, do EFEO soạn thảo theo một khuôn mẫu thống nhất, với 11 Đề mục cho sẵn, gồm: Văn bia, Thần sắc, Thần tích, Cổ chỉ, Tục lệ, Đình chùa, Tượng và đồ thờ, Lễ hội, Cổ tích, Địa đồ và Công nghệ thổ sản.
Lý trưởng các làng xã dựa theo đó điền bằng chữ Quốc ngữ (có chua thêm chữ Hán và chữ Pháp khi cần thiết) cho đầy đủ nội dung cần kê khai theo từng Đề mục. Phông tài liệu này hoàn thành vào khoảng từ những năm 1937 đến đầu năm 1946 của thế kỷ XX.
Sách Xã chí của xã Thượng Trưng mang ký hiệu AJ1/25, kê khai vào ngày 8 tháng 9 năm 1937, tại Đề mục thứ nhất (Văn bia), ghi dòng chữ Hán gồm 4 chữ: Bản huyện Văn từ, có nghĩa Văn từ của huyện đặt tại đây. Đáng tiếc thông tin về Văn từ của huyện Vĩnh Tường chỉ ngắn gọn như vậy. Tuy nhiên đây lại là thông tin quan trọng giúp chúng tôi xác định chắc chắn Văn từ của huyện Vĩnh Tường đặt tại xã Thượng Trưng (nay là xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường).
Xét thông lệ đặt Văn từ hàng huyện tại địa bàn của một xã nào đó phải đáp ứng yêu cầu là nơi tạo dựng truyền thống hiếu học khoa bảng, cộng với điều kiện đi lại dễ dàng. Xã Thượng Trưng đáp ứng được yêu cầu đó: ngoài có 5 vị đỗ đại khoa (gồm Bùi Hoằng, Lê Dĩnh, Phí Văn Thuật, Phí Quốc Thể, Bùi Công Tốn), xã còn 6 vị đỗ trung khoa, chưa kể 42 vị đỗ trung khoa nhưng chưa xác định năm đỗ (xếp tại Bảng 4). Như vậy Hội Văn thân huyện Vĩnh Tường chọn xã Thượng Trưng làm địa điểm đặt Văn từ là hợp lý.

Văn từ huyện Yên Lạc:

Tên huyện Yên Lạc ra đời từ rất sớm. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “ Từ đời Đinh đời Lý về sau mới đặt tên huyện hiện nay”1. Sự kiện Phạm Công Bình đỗ đại khoa triều Lý được các sách Đăng khoa lục ghi quê huyện Yên Lạc nêu trong Danh mục đỗ đại khoa đã chứng minh điều đó. Thời Trần thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô, thời Lê cho đến đầu thời Nguyễn thuộc phủ Tam Đới trấn Sơn Tây. Từ năm 1831 thuộc tỉnh Sơn Tây. Đến năm 1890, thuộc tỉnh Vĩnh Yên. Tên huyện Yên Lạc kể từ khi được đặt đến nay chưa một lần hoán cải, đó là điều chú ý trong địa danh ở Vĩnh Phúc.
Địa điểm đặt Văn từ của huyện được xác định tại xứ Đồng Đậu xã Vĩnh Mỗ, tức nay là khu di tích khảo cổ Đồng Đậu được Nhà nước xếp hạng là Di tích khảo cổ học đặc biệt quan trọng, thuộc thôn Đông, Thị trấn Yên Lạc. Lý do người xưa chọn Vĩnh Mỗ làm nơi đặt Văn từ vẫn theo thông lệ, bởi địa phương là nơi giữ truyền thống học hành thi cử, với ba vị đỗ đại khoa (Dương Tĩnh, đỗ TS khoa Mậu Tuất, 1478; Dương Đôn Cương, đỗ HG khoa Đinh Mùi, 1547; Phùng Bá Kỳ, đỗ TS khoa Ất Mùi, 1715). Số người đỗ trung khoa ở đây chắc chắn không dưới vài chục vị nhưng hiện thời còn thiếu tài liệu ghi chép về họ. Thêm nữa, Vĩnh Mỗ lại là trung tâm của huyện, có trị sở và trường học đặt tại đây.
Tư liệu đề cập đến Văn từ huyện Yên Lạc khá phong phú. Căn cứ vào văn bia Yên Lạc huyện Từ vũ bi ký (No.14895), tạo năm Minh Mệnh thứ 7 (1826); Tu lý Từ vũ ký (No.14896), tạo năm Minh Mệnh thứ 15 (1834); Yên Lạc huyện Văn miếu bi ký (No.14896) tạo năm Thành Thái thứ 5 (1893), kết hợp với nguồn tư liệu bổ trợ, liên quan đến Văn từ của huyện, ghi trên văn bia Đinh Xá hương hiền từ bi (No.14583), tạo năm Tự Đức thứ 13 (1860), dựng tại Văn chỉ của xã Đinh Xá (cùng huyện), do Nguyễn Hữu Tạo1 soạn, giúp ta hình dung diện mạo của Văn từ huyện Yên Lạc, với những đường nét như sau: Văn từ hàng huyện của huyện Yên Lạc có từ thời Lê, ban đầu đặt tại xã Thụ Ích thuộc bản huyện, vốn là nơi sinh ra nhiều vị khoa bảng. Đầu thời Tây Sơn (1788 -1802), di dời về xứ Đồng Đậu.
Năm Đinh Sửu (1817), Hội Tư văn của 15 tổng trong huyện đứng ra cải tạo, trong đó riêng Hội Tư văn tổng Hoàng Xuyết cung tiến một tòa nhà 7 gian dựng thành Văn từ mới cho huyện.
Đến năm 1834, hai Hội Văn thuộc và Võ thuộc của huyện tiếp tục đứng ra tu sửa, tạo thành một quần thể gồm 3 gian chính điện, 3 gian tiền đường, nền Văn từ đặt trên huyệt thổ tinh, xung quanh xây tường bao, bên phải bên trái là gò, bên cạnh là giếng, phía trước là đầm. Sau đó đến năm 1893, Huyện doãn huyện Yên Lạc Nguyễn Khắc Liêu và Trần Văn Trung cùng các thân hào trong huyện tiếp tục đứng ra huy động mọi người trùng tu Văn từ.
Qua đây khẳng định: Văn từ huyện Yên Lạc được tạo dựng từ lâu đời, có thể đoán định vào giữa thế kỷ XVIII, đặt tại xã Thụ Ích, sau di chuyển về xã Vĩnh Mỗ, qua nhiều lần duy tu, nâng cấp để thành một quần thể theo kết cấu hình chữ Nhị.
Như vậy, hiện thời chúng tôi xác định tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trước đây đã lập 4 Văn từ cấp huyện, là Bình Xuyên, Lập Thạch, Vĩnh Tường và Yên Lạc. Thời điểm dựng Văn từ cũng như quy mô, cấu trúc nhìn chung khá cụ thể, tuy có nơi còn sơ sài, do hạn chế nguồn tư liệu. Song có thể nhận dạng cả bốn Văn từ đều có quy mô nhỏ hơn so với Văn miếu phủ Tam Đới, thường chỉ là một tòa chính điện, hầu như không có công trình phụ đi kèm. Riêng Văn từ của huyện Yên Lạc được cấu trúc theo hình chữ Nhị, với một tòa Chính điện, một toà Tiền đường, đều làm 3 gian.
Cả bốn huyện tạo lập Văn từ, với điểm chung dễ nhận thấy, đều là nơi giàu truyền thống hiếu học và khoa bảng trong tỉnh.
Ba huyện còn lại hiện thiếu thông tin về Văn từ, gồm Sông Lô, Tam Dương và Tam Đảo, nhưng thực chỉ còn một vì huyện Sông Lô mới tách từ huyện Lập Thạch và huyện Tam Đảo mới tách từ một phần của 2 huyện Lập Thạch và Bình Xuyên.
Lý giải về điều này, chúng tôi thấy huyện Tam Dương và một số xã của huyện Tam Đảo hiện nay, từ đời Lê trở về trước là một huyện, mang tên huyện Dương (thời Trần mạt) và sau này là Tam Dương (thời Lê Quang Thuận), là địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Sán Dìu), đất rộng, người thưa, điều kiện kinh tế không phát triển bằng các huyện đồng bằng. Giáo dục khoa cử vì thế cũng không phát đạt, toàn huyện chỉ có một vị đỗ đại khoa theo địa danh hiện nay (Phạm Phi Hiển, người xã Tĩnh Luyện huyện Lập Thạch. Nay là thôn Tĩnh Luyện xã Đồng Tĩnh huyện Tam Dương, đỗ TS khoa Tân Sửu (1541), đời vua Mạc Phúc Hải.
Bên cạnh đó cũng đặt khả năng trước đây huyện Tam Dương từng xây dựng Văn từ nhưng không dựng văn bia nên không có thác bản lưu trữ tại VNCHN, hoặc có văn bia nhưng EFEO không in rập?
Song cũng phải thừa nhận trên thực tế không phải huyện nào ở nước ta trước đây cũng lập Văn từ, nhiều huyện thuộc các tỉnh phía Bắc cũng chung tình trạng tương tự như huyện Tam Dương.

3.2. Văn từ cấp tổng

Tổng là đơn vị hành chính nối giữa cấp huyện với cấp xã. Địa danh hành chính tổng xuất hiện ở nước ta từ khá sớm, đến thời Mạc thấy ghi khá phổ biến trên văn bia.
Ban đầu đơn vị tổng chỉ đặt ra ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi có mật độ dân cư đông đúc, kinh tế văn hóa phát triển, sau mới thiết lập đến các vùng thượng du. Theo thông lệ, mỗi tổng khi thiết lập thường lãnh từ 5 đến 10 xã.
Chức năng của tổng, ngoài việc giúp huyện đôn đốc dân các xã thu thuế, đóng góp phu phen tạp dịch, sửa sang đường xá cầu cống…, còn lại là chăm nom tế lễ Thần hoàng, Tiên thánh Tiên hiền, khuyến học và khoa cử, coi đây là việc chính.
Việc xây dựng Văn từ cấp tổng ở Vĩnh Phúc là sự nối tiếp của Văn từ cấp huyện.
Lý do lập Văn từ cấp tổng của người dân Vĩnh Phúc thấy ghi rõ trên văn bia dựng tại Văn từ cấp tổng của nhiều tổng thuộc các huyện trong tỉnh. Ví dụ: tại Văn từ tổng Đạo Kỷ huyện Lập Thạch, người viết văn bia rằng: “Người có công với Nho giáo ắt phải được tế tự, lễ ấy là đương nhiên", ghi trên văn bia Quỳnh cư vĩnh hảo (No.15628-9). Có khi nói cụ thể hơn như tại Văn từ tổng Nhân Mục (huyện Lập Thạch), người dân ở đây cho rằng lập Văn từ là để “bồi đắp mạch đạo trường tồn, tạo ra ích lợi dài lâu, văn phong khoa giáp kế nhau đỗ đạt”, ghi trên văn bia Từ vũ thạch bi ký  (No.15725). Tương tự như thế, ở Văn từ tổng Quyết Trung huyện Tam Dương, ghi: “Phàm việc ích lợi nhỏ đương thời, chỉ là chút ít với quốc gia, tất được biểu dương tiếng thơm ngời ngời trong sử sách, huống chi người có công với Nho giáo, với thánh môn, lẽ nào lại không xây dựng Từ vũ để thờ tự”, ghi trên văn bia Sáng lập Từ vũ bi ký (No.14630-1).
Tựu trung đó là công việc cần thiết, thể hiện tinh thần trọng đạo Thánh hiền, hướng vào mục đích giáo dục, mang ý nghĩa văn hóa trong đời sống thường nhật.
Dưới đây là Bảng thống kê về Văn từ cấp tổng ở Vĩnh Phúc.

  (Tên gọi - Năm tạo - Địa điểm đặt văn từ Xuất xứ)
1 Văn từ tổng Bá Hạ huyện Bình Xuyên Gia Long 13 -(1814) - Xã Bá Hạ Tư văn bi ký -No.15524-25
2 Văn từ tổng-Đạo Kỷ -huyện Lập Thạch Chính Hòa 25-(1705) Xã Bình Sơn Quỳnh Cư vĩnh hảo -No. 15628-9
3 Văn từ tổng  -Hoàng Xuyết -huyện Yên Lạc Cảnh Thịnh 8- (1799) (chưa rõ-địa điểm) Thánh từ bi ký. No.14899.
4 Văn từ tổng-Nhân Mục-huyện Lập Thạch Vĩnh Hựu 5-(1739) Xã Đôn Mục Từ vũ thạch-bi ký No.15725
5 Văn từ tổng-Quyết Trung-huyện Tam Dương Bảo Thái 8 -(1727) Xã Bảo Sơn Sáng lập-Từ vũ bi ký-No.14630-1
6 Văn từ tổng-Sơn Bình -huyện Lập Thạch Tự Đức 6 -(1853) Xã Sơn Bình Sơn Bình tổng-Văn từ bi ký -No.15504-7.

7 Văn từ tổng -Tang Thác- huyện Bạch Hạc Tự Đức 7 -(1854) Thôn Môn Trì-xã Tang Thác Văn chỉ bi ký-No.14405-6


Căn cứ vào Bảng thống kê cho thấy, trên toàn tỉnh có 7 Văn từ hàng tổng xác lập ở các huyện Bình Xuyên, Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường và Yên Lạc. Trong đó huyện Lập Thạch chiếm số lượng nhiều nhất, với 3 Văn từ.
Những Văn từ hàng tổng biết đến ở đây ra đời vào loại sớm, bắt đầu từ Văn từ của tổng Đạo Kỷ huyện Lập Thạch dựng năm 1704, thuộc đầu thế kỷ XVIII; sau đến Văn từ của tổng Quyết Trung huyện Tam Dương, dựng năm 1727; sau cùng là Văn từ tổng Tang Thác huyện Vĩnh Tường, dựng năm 1854, giữa thế kỷ XIX. Ba trong 7 Văn từ này dựng vào thời Lê, 1 Văn từ dựng thời Tây Sơn, 3 Văn từ dựng thời Nguyễn.
Số lượng Văn từ hàng tổng trên địa bàn tỉnh chỉ với 7 đơn vị như vậy đương nhiên chưa phản ánh đúng hiện thực, bởi toàn tỉnh nếu kê trong bộ Đại Nam nhất thống chí có đến 50 tổng (huyện Bạch Hạc: 9 tổng; huyện Bình Xuyên: 7 tổng; huyện Lập Thạch: 12 tổng; huyện Tam Dương: 7 tổng; huyện Yên Lạc: 15 tổng).
Song cũng phải thừa nhận Văn từ hàng tổng ở Vĩnh Phúc không phải nơi nào cũng sẵn điều kiện làm thành một toà nhà thờ Khổng Tử, Sĩ Vương như Văn từ của 7 tổng đang nói đến ở đây, gồm 3 gian hoặc 5 gian xây gạch lợp ngói, mà đại bộ phận còn lại là lập đàn thờ lộ thiên. Kết quả điều tra điền dã của chúng tôi cho thấy điều đó. Đơn cử như Văn từ của tổng Vân Đài huyện Yên Lạc trước đây đặt tại Dốc Lồ (nay là địa điểm cạnh chợ Lồ, phía bên phải từ dốc đê đi xuống, thuộc địa bàn xã Nguyệt Đức): theo các vị cao niên ở đây kể lại, Văn từ của tổng chỉ là một đàn lộ thiên lát gạch rộng chừng 200 mét vuông, phía trước có bát hương và bài vị Khổng Tử, xung quanh xây tường bao cao ngang ngực. Những năm 60 của thế kỷ trước vẫn còn lại nền, sau đó diện tích bị trưng thu để làm kho lương thực của tỉnh, nay không còn dấu vết. Một ví dụ như thế cho thấy khi là đàn lộ thiên thì thông thường không dựng bia nên cũng không có tư liệu để thống kê về Văn từ hàng tổng trên địa bàn Vĩnh Phúc.
Cũng giống như Văn từ cấp huyện, địa điểm dựng Văn từ cấp tổng thường chọn đặt tại những xã có nhiều người đỗ đạt khoa trường, dựng trên thế đất đẹp, điều kiện đi lại tương đối dễ dàng - điều mà người xưa thường coi là đắc địa. Văn từ tổng Vân Đài đặt tại xã Nghinh Tiên, Văn từ tổng Đạo Kỷ đặt tại xã Sơn Bình, Văn từ tổng Quyết Trung đặt tại xã Bảo Sơn… là theo tinh thần đó.
Việc xây dựng Văn từ cấp tổng hoàn toàn dựa trên sự đóng góp công đức của Hội Tư văn trong tổng cũng như người dân bản tổng. Lấy Văn từ của tổng Đạo Kỷ huyện Lập Thạch làm ví dụ: tại đây vào năm Chính Hoà thứ 25 (1704) bắt đầu xây dựng một toà Văn từ (trong văn bia ghi là Từ vũ) lấy làm nơi thờ các vị Tiên triết của Nho giáo, theo thống kê gồm 69 người tham gia: người thì cung tiến đất làm nền Văn từ (Giám sinh Nguyễn Địch, người xã Bình Sơn), người thì góp bằng tiền (số này chiếm số đông) để mua vật liệu, số khác thay góp bằng tiền là bỏ công sức lợp ngói (mọi người trong thôn Mộc Cụ).
Hoặc như Văn từ của tổng Hoàng Xuyết huyện Yên Lạc đặt xứ Đồng Đậu, văn bia ghi nhận vào năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800), Hội Tư văn hàng tổng bắt đầu xây dựng Văn từ (văn bia ghi là Thánh từ) thu hút rất đông người tham gia. Theo phần chữ còn đọc được trên bia (bia bị mờ nhiều chữ) cho thấy có khoảng 150 người tham gia góp công đức, với nhiều hình thức khác nhau, như cung tiến điền thổ, cung tiến gỗ lim, cung tiền bằng tiền.
3.3. Văn chỉ cấp xã.

Văn chỉ cấp xã ở Vĩnh Phúc phát triển với số lượng rất lớn. Người dân Vĩnh Phúc nêu lý do lập Văn chỉ không khác nhiều so với việc lập Văn từ ở cấp tổng nhưng mang nét riêng. Trong suy nghĩ của người dân địa phương, đặc biệt ở các xã có truyền thống khoa bảng thì lập Văn chỉ là điều tất yếu. Có thể nêu trường hợp của xã Bồ Sao làm ví dụ: khi Văn hội của xã khẳng định đất làng mình là nơi sinh người văn học song trước đây chưa có miếu thờ Tiên hiền. Đến năm Ất Sửu (1695) chính ông nghè Tô Thế Huy đứng ra hưng công làm miếu nhưng chưa đầy đủ. Đến năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Văn hội tại bản xã tiếp tục sửa sang cho hoàn thiện (No.13791).
Nếu xã nào chưa có truyền thống Nho học cũng lập Văn chỉ, với hy vọng về sau sẽ phát đạt khoa cử. Lấy trường hợp của xã Bá Cầu tổng Sơn Lôi huyện Bình Xuyên làm ví dụ: vào năm Tự Đức thứ 9 (1856), Hội Tư văn bản xã hội họp cho rằng từ khi thành lập xã đến nay, đền thờ thần, chùa thờ phật đã lập, còn Văn chỉ thì chưa. Do vậy Hội Tư văn liền chọn thế đất tốt, tạo 3 gian Văn chỉ cho xã, lấy làm nơi thờ Tiên thánh (No.15338).
Chính cách lý giải như thế nên Văn chỉ trong tỉnh phát triển mạnh, chiếm số lượng cao nhất so với Văn miếu và Văn từ.
Dưới đây là Bảng thống kê về Văn chỉ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
  (Xã- Năm tạo- Năm trùng tu- Xuất xứ)
I. HuyệnBình Xuyên

1. Bá Cầu-(nay là thôn Bá Cầu xã Sơn Lôi) Tự Đức 9 (1856) - Tự Đức 29 (1876)- Thành Thái 3 (1891)- Bá Cầu xã bi. No.15358; 15357; 15355
2. Lương Câu (nay là thôn Lương Câu xã Sơn Lôi) Chưa rõ Bảo Đại 5 (1930) Cung đức bi-No.15378
3. Sơn Lôi-(nay là thôn Sơn Lôi xã Sơn Lôi) Chưa rõ Tự Đức 27 (1874) Văn chỉ-bi ký No.15345
II. Huyện Lập Thạch

1. Bình Hòa Vĩnh Thịnh 2 (1707) Tiên hiền Từ vũ lập bi ký. No.14813-4
2. Đại Lã Chính Hòa 22 (1702) Tư văn Tiên hiền Từ vũ bi. No.15437-8
III. Huyện Vĩnh Tường

1. Bảo Trưng (nay thuộc xã Phú Đa) Tự Đức 30 (1877) Bảo Trưng Văn chỉ bi. No.14315-6
2. Bích Đại (nay là thôn Bích Đại xã Đại Đồng) Chưa rõ Xã chí AJ 1/3
3. Bồ Điền (nay là Thị trấnVĩnh Tường) Chưa rõ Bồ Điền điều ước bi chi. No.14203
4. Bồ Sao (nay là thôn Bồ Sao xã Bồ Sao) Vĩnh Khánh 2 (1730) Bản xã Văn hội bi chí. No.13791
5.Diệm Xuân (nay là thôn Diệm Xuân xã Việt Xuân) Chưa rõ Xã chí AJ ½
6. Đại Định (nay là thôn Đại Định xã Cao Đại) Chưa rõ Từ đường học điền bi. No.13933
7. Đông Viên Chưa rõ Xã chí AJ 1/26
8. Đồng Vệ (nay là thôn Đồng Vệ xã Đại Đồng) Chưa rõ Xã chí AJ 1/3
9. Hoàng Xá Tự Đức 4 (1851) Từ chỉ bi ký. No.14417-8
10. Hoàng Xá Hạ (nay thuộc xã Vĩnh Thịnh) Chưa rõ Tự Đức 20 (1867) Văn từ bi ký. No.14037-8
11. Lạc Viên Chưa rõ Xã chí AJ 1/26
12.Lương Đài (nay là thôn Lương Đài xã Bồ Sao) Chưa rõ Xã chí AJ 1/26
13. Lương Điền Chưa rõ Duy Tân 4 (1910) Hậu hiền bi ký. No.13627
14. Phù Chính (nay là thôn Phù Chính xã Tuân Chính) Chưa rõ Tư văn điền bi ký No.14361
15. Phù Lập (nay là thôn Phù Lập xã Tam Phúc) Chưa rõ Học điền bi ký No.14348
16. Phú Đa (nay là xã Phú Đa) Chưa rõ Hương trại điều lệ No.14531.
17. Quý Mãn Chưa rõ Xã chí AJ 1/26
18. Thổ Tang Chưa rõ Văn chỉ bi ký. No.13704-5
19. Văn Trưng (nay là thôn Văn Trưng xã Tứ Trưng) Chính Hòa 23 (1703) Học xá điền thổ bi ký. No.14252-3
20. Vũ Di (nay là thôn Vũ Di xã Vũ Di) Tự Đức 20 (1867) Bản xã Văn chỉ bi ký. No.14246-7
IV.Huyện Yên Lạc

1. Lưỡng Quán (nay là thôn Lưỡng Quán xã Trung Kiên) Tự Đức 6 (1853) Từ chỉ bi ký. No.14771
2. Đinh Xá (nay là thôn Đinh Xá xã Nguyệt Đức) Tự Đức 13 (1860) Đinh Xá hương hiền từ bi. No.14583-4
3. Đông Viên Tự Đức 22 (1869) Thành Thái 19 (1907) Văn chỉ bi ký. No.13593;15392
4. Đồng Tâm (nay là thôn Đồng Tâm xã Yên Đồng) Minh Mệnh 9 (1828) Tư văn bi ký. No.15176
5. Nghinh Tiên (nay là thôn Nghinh Tiên xã Nguyệt Đức) Tự Đức 8 (1855) Bản xã tu tạo bi ký. No.14739
6. Vân Đài (nay là thôn Tiên Đài xã Văn Tiến) Chưa rõ - Duy Tân 4 (1910)- Khải Định 5 (1920) Từ chỉ Hậu hiền- No.14674-5;14671-2
7. Vĩnh Mỗ (nay là thôn ĐôngThị trấnYên Lạc)-Cảnh Hưng 44 (1783) Tự Đức 8 (1855) Từ vũ bi ký. No.14905;14903-4



Bảng thống kê đưa ra toàn tỉnh gồm 32 Văn chỉ, gấp gần 5 lần về số lượng so với Văn từ cấp tổng, phân bố ở 4 huyện: Bình Xuyên (3 xã), Lập Thạch (2 xã), Vĩnh Tường (20 xã) và Yên Lạc (7 xã). Trong số này, tập trung chủ yếu ở hai huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc.
Số lượng Văn chỉ nêu trong Bảng thống kê chưa phải số liệu chuẩn xác, do Văn chỉ ở Vĩnh Phúc có dạng kết cấu lộ thiên, thường không dựng bia ghi sự kiện, dẫn đến thiếu số liệu thống kê, sẽ đề cập ở phần sau.
Xét năm tạo lập: mặc dù còn khá nhiều Văn chỉ chưa xác định thời điểm ra đời nhưng có thể khẳng định việc lập Văn chỉ ở Vĩnh Phúc tiến hành đồng thời với lập Văn từ ở cấp tổng, cấp huyện và chỉ sau Văn miếu cấp phủ. Điều đó có nghĩa Văn chỉ ở Vĩnh Phúc ra đời từ đầu thế kỷ XVIII, tồn tại và tiếp tục phát triển mạnh dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên, sự phân bố của Văn chỉ trên địa bàn tỉnh là không đồng đều, chỉ tập trung ở 2 huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc, trong đó huyện Vĩnh Tường chiếm số lượng lớn, với 21 xã.
Xét địa danh: những xã lập Văn chỉ thường là nơi hiếu học, có người đỗ đại khoa như xã Vũ Di, Văn Trưng, Thổ Tang của huyện Vĩnh Tường; Vĩnh Mỗ, Đinh Xá, Nghinh Tiên của huyện Yên Lạc. Nếu vắng người đỗ đại khoa thì có người đỗ trung khoa và tiểu khoa, như các xã Bảo Trưng, Bồ Sao, Bồ Điền, Phù Lập, Phù Chính (huyện Vĩnh Tường); Bá Cầu, Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên); Bình Hòa, Đại Lã (huyện Lập Thạch); Đông Viên, Đồng Tâm (huyện Yên Lạc).
Riêng xã Sơn Đông huyện Lập Thạch vốn nổi tiếng nhất Vĩnh Phúc với tinh thần hiếu học nhưng tại VNCHN hiện nay không lưu trữ thông tin về Văn chỉ của xã. Theo nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên: Sơn Đông trước đây có Văn chỉ mà tấm bia Tiên hiền liệt vị, ghi họ tên của 12 vị đỗ đại khoa của làng chính là đặt tại Văn chỉ của xã Sơn Đông. Về sau do Văn chỉ là nơi hẻo lánh nên khi tu sửa mới mang bia về đặt trong miếu thờ Đỗ Khắc Chung - ngôi miếu thờ người thầy đầu tiên ở Vĩnh Phúc. Qua đây cho thấy xã Sơn Đông vừa có di tích của Nho giáo, vừa có di tích của Nho học. Đây là điều đáng chú ý.
Xét thành phần tham gia xây dựng: do Hội Tư văn của xã và người dân trong xã là chính. Nếu kết cấu Văn chỉ là đàn lộ thiên thì khối lượng công việc không nhiều nên số người tham gia đóng góp không đông. Còn nếu Văn chỉ xây thành dạng nhà thờ thì cần nhiều người tham gia. Nêu trường hợp xây dựng Văn chỉ của xã Hoàng Xá Hạ tổng Đồng Vệ huyện Vĩnh Tường (nay thuộc xã Vĩnh Thịnh) làm ví dụ: vào năm Bính Dần niên hiệu Tự Đức (1866), các vị kỳ lý, hương lão và sĩ nhân trong xã cùng nhau bỏ của xây dựng toà Từ vũ bằng gỗ lim, lợp ngói, xây tường, qua hai tháng đã hoàn thành. Tổng cộng với 43 người tham gia đóng góp công đức, người góp nhiều 20 quan (Trùm Nguyễn Văn Đài), người góp ít 5 mạch (Lê Văn Tịch), phản ánh trên văn bia Văn từ bi ký (No.14037-8).
Tuy nhiên loại Văn chỉ như của xã Hoàng Xá Hạ không nhiều, nhiều hơn cả vẫn ở dạng Văn chỉ lộ thiên. Loại này kiến trúc đơn giản: Hội Tư văn của xã chọn một bãi đất sạch sẽ, rộng rãi thoáng đạt, thông thường là giáp với đình hoặc chùa, hoặc trong khuôn viên của hai loại di tích đó, tôn cao chút nền, lát gạch Bát Tràng rộng chừng hơn chục mét vuông, phía trước xây bệ thờ khoét vòm đặt bài vị Khổng Tử. Trước bài vị đặt bát hương bằng sành hoặc làm bằng đá, hai bên bệ thờ xây thấp hơn dùng để đặt đồ tế tự, không có tường ốc bao quanh. Nói cách khác, đây là mô hình thu nhỏ của Văn từ cấp tổng của Vĩnh Phúc. Cứ để như vậy qua năm tháng trường tồn với thời gian, dẫu mộc mạc đơn sơ nhưng uy nghiêm chỉnh đốn.
Tương tự như vậy là Văn chỉ của xã Lưỡng Quán tổng Lưỡng Quán huyện Yên Lạc (nay là thôn Lưỡng Quán xã Trung Kiên) do chúng tôi thu thập tư liệu qua quá trình điền dã. Văn chỉ này trước đây đặt trong khuôn viên của đình Lưỡng Quán, xây lộ thiên, phía trước đặt ngai thờ khoét vòm, bên trong đặt bài vị, ghi dòng chữ Tiên thánh Khổng Tử, húy Khâu, tự Trọng Ny (Bài vị của Tiên thánh Khổng Tử, tên húy là Khâu, tên chữ là Trọng Ny). Bức bài vị đặt trong một hộp làm bằng gỗ vàng tâm, hình vuông, cao khoảng 50 cm, xung quanh bốn mặt chạm trổ rất tinh xảo, mang phong cách thời Nguyễn, thành một tác phẩm nghệ thuật hiện lưu giữ bảo quản tại địa phương. Tại đây đang có kế hoạch khôi phục đưa Văn chỉ về địa điểm cũ theo kết cấu ban đầu.
Còn đơn giản hơn là hình mẫu của một Văn chỉ được phục dựng gần đây đặt trong khuôn viên chùa Láp, tên chữ là An Trấn, thuộc phường Liên Bảo, Thành phố Vĩnh Yên. Văn chỉ này trước đây vốn của xã Định Trung đặt bên cạnh Văn miếu Vĩnh Yên, như sơ đồ của Lý trưởng Hoàng Văn Ngọ từng phác hoạ trước đây1. Khi Văn miếu tỉnh bị đổ nát, nơi đây về sau dùng làm Trường phổ thông trung học Trần Phú, Văn chỉ phải di dời về địa điểm hiện tại. Văn chỉ nhìn về hướng Nam, lưng dựa vào tường của Trường phổ thông trung học Trần Phú. Chiều dài 7 m, rộng 5,6 m, tường bao loan cao 0,8 m, bên trong lát ngạch, phía trước bệ thờ là ngai, xây cao 0,7 m, chỉ có bát hương, chưa thấy ghi bài vị.
Song dù cấu trúc của Văn chỉ ở Vĩnh Phúc thuộc dạng nào đi nữa, theo nghiên cứu của chúng tôi đây mới là cấp độ quan trọng trong hệ thống Văn miếu Văn từ Văn chỉ trên địa bàn của tỉnh. Cơ sở để đưa ra nhận định là bởi trong điều kiện giao thông đi lại còn khó khăn như trước đây, không phải lúc nào người đi học cũng có điều kiện lên tổng, lên huyện, lên phủ chiêm ngưỡng nơi thờ các vị học tổ, thay vào đó, hàng ngày, hàng tháng, hàng năm, họ cảm nhận về Văn chỉ ở ngay nơi bản quán. Cứ như thế năm này qua năm khác, thần tượng của Nho giáo, Nho học sẽ ăn sâu vào ký ức của họ, tạo ra động lực tinh thần để phấn đấu vươn lên trong học tập.

 

Các tin đã đưa ngày: