ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN MIẾU TẠI VIỆT NAM

26/07/2013

Khổng miếu - Văn miếu gắn với thờ Khổng Tử từng in sâu trong đời sống tinh thần của người Trung Quốc. Ảnh hưởng của Văn miếu sang các nước láng giềng trong đó có Việt Nam là rất sâu đậm. Trước khi trình bày vào các phần sau, chúng tôi thấy cần thiết phải nêu khái quát về một số điểm sau đây.

1.1. Khổng Tử và thờ Khổng Tử ở Trung Quốc

Khổng Tử , tên huý là Khâu, tên chữ là Trọng Ny , sinh vào năm 551 TCN tại ấp Trâu, hương Xương Bình nước Lỗ, nay thuộc huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi quý tộc nước Tống nhưng đã bị sa sút, đến đời cha là Thúc Lương Ngột chỉ làm một chức quan nhỏ. Năm lên ba tuổi, ông mồ côi cha. Lúc nhỏ dù gia cảnh nghèo khó song do ham học hỏi nên đến năm 30 tuổi đã thành danh, thu nhận nhiều học trò đến học. Năm 35 tuổi, nhân trong nước có loạn, ông lánh sang nước Tề và trở về sau đó 2 năm.
Năm 46 tuổi, ông cùng Tả Khâu Minh đến kinh đô nhà Chu sưu tầm thư tịch cổ, khi trở về nước được giữ chức Lệnh tể thành Trung Đô, thăng đến Tư không, rồi Đại tư khấu. Song chỉ 3 tháng sau, do bất đồng chính kiến với Lỗ Định công về chủ trương thi hành chính sự do ông đề xuất không được thực hiện nên xin từ quan.
Suốt 14 năm sau đó, ông cùng học trò chu du thiên hạ qua các nước như Tống, Trần, Sái, Điệp..., đưa ra những tư tưởng “đức trị” (lấy đức làm chính trị) “ái nhân” (yêu người) “tỉnh hình phạt” (giảm hình phạt)... nhằm thuyết phục các vương hầu, khanh tướng ở các nước này thực hiện nhưng không được hoan nghênh.
Năm 68 tuổi, ông cùng học trò lại trở về nước Lỗ, làm công việc chỉnh lý thư tịch cổ, tiếp tục thu nhận học trò, học trò của ông đông đến 3000 người, trong đó có 72 người học giỏi, có tiếng là thanh liêm, về sau được phối thờ. Các thư tịch do ông chỉnh lý như Kinh thi, Kinh thư hoặc bình giải, như Kinh dịch hoặc viết, như Xuân thu đều là những tác phẩm có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tư tưởng, văn hóa của nước Trung Hoa cổ đại, trở thành kinh điển của Nho gia. Ông mất năm 479 TCN, hưởng thọ 73 tuổi.
Sự nghiệp của Khổng Tử tuy không thành đạt về chính trị nhưng thành đạt về giáo dục. Trước ông, tri thức do tầng lớp quý tộc chủ nô thao túng, từ thời Xuân Thu trở đi, do sự biến hóa của quan hệ giai cấp bắt đầu xuất hiện xu thế “văn hóa chuyển xuống dưới”. Thuận theo trào lưu thời đại, ông là người đầu tiên mở ra phong trào dạy học tư ở Trung Quốc, với quan điểm bác ái vô tư “ta có thể dạy tất cả mọi người, không phân biệt ai”. Khi thu nhận học trò, chỉ cần “Từ người đem đến một bó nem trở lên, ta chưa vì thế mà không dạy”. Phương châm trong cuộc đời tự học, tự giảng dạy của ông là “Học không biết chán, dạy học không biết mỏi”.
Với quan điểm, phương châm, nỗ lực truyền thụ kiến thức không biết mệt mỏi như vậy khiến ông trở thành nhà giáo dục vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa thời cổ đại. Về sau ông được suy tôn là vị tổ sư của Nho giáo cũng như Nho học.
Sau khi Khổng Tử qua đời được lập miếu thờ, ban thụy hiệu, mà Khổng miếu khởi dựng ở ngay trên nền cũ trường học của ông ở Khúc Phụ. Từ thời Tây Hán (từ năm 204 TCN đến năm 24 SCN) trở đi, do Nho giáo được coi trọng, địa vị của Khổng Tử ngày càng được nâng cao, các triều đại ở Trung Quốc tiếp tục cho xây dựng và trùng tu Khổng miếu.
Năm đầu sau công nguyên, ông được ban thụy hiệu đầu tiên là “Bao Thành Tuyên Ni Công”. Sang thời Đông Hán (25- 220), vua Lưu Trang đến Khúc Phụ làm lễ Khổng Tử và cho 72 học trò của Khổng Tử phối thờ với thầy. Năm Trinh Quán thứ nhất (643) đời nhà Đường, triều đình hạ chiếu cho các trường học thuộc các châu huyện trong nước dựng Khổng miếu. Đến năm Trinh Quán thứ 21 (647), vua Đường Thái Tông cho 21 vị tiên nho được phối thờ thêm.
Niên hiệu Khai Nguyên thứ 8 (720), vua Đường Huyền Tông đưa 72 học trò của Khổng Tử vào thờ ở nhà quốc học, đồng thời cho Nhan Hồi, Tử Hạ cùng mười vị“ Thập triết” là Mẫn Tổn, Nhiễm Ung, Đoan Mộc Tứ, Trọng Do, Bốc Thương, Nhiễm Canh, Tể Dư, Nhiễm Cầu, Ngôn Yển và Chuyên Tôn Sư được phối thờ ở đây.
Đời Đường Huyền Tông, năm thứ 27 (739), Khổng Tử được gia phong là Văn Tuyên vương, cho nên nơi thờ của ông được gọi là Văn Tuyên vương miếu.
Đến niên hiệu Hàm Thuần thứ 3 (1267) đời Nam Tống, đưa bốn vị Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư và Mạnh Tử vào thờ ở Khổng miếu, gọi là Tứ phối.
Đến thời Nguyên (1271- 1368), sắc phong cho ông là Đại thánh. Trong giai đoạn từ 1307 đến 1530, là “Đại Thánh Chí Thánh”. Còn giai đoạn từ 1530 trở đi, ông được ban là “ Chí Thánh Tiên sư”.
Bên cạnh Khổng miếu ở Khúc phụ còn có Khổng miếu xây dựng ở Bắc Kinh, Vân Nam cùng nhiều địa phương khác của Trung Quốc. Nói chung kể từ khi Khổng Tử qua đời đến năm 1919, các triều đại ở Trung Quốc luôn coi trọng việc trùng tu và xây dựng Khổng miếu hoặc Văn miếu lấy làm nơi thờ Khổng Tử cùng các vị môn đệ của Nho giáo.
Ngoài ra, tại Triều Tiên và Nhật Bản, do ảnh hưởng của Nho giáo nên cũng xây dựng Văn miếu thờ Khổng Tử, Tứ phối, Thập triết cùng các học trò của Khổng Tử tại các nước này.

1.2. Định nghĩa về Văn miếu Văn từ Văn chỉ

Văn miếu là sản phẩm kiến trúc của Trung Hoa và các nước phụ cận chịu ảnh hưởng văn hóa Nho giáo Trung Hoa. Hiện vẫn tồn tại nhiều cách định nghĩa về Văn miếu. Trong các Từ điển của người châu Âu có mục từ định nghĩa về Văn miếu theo cách hiểu của họ. Chẳng hạn như người Anh ghi là Literature temple; người Đức ghi là Literatur temple; người Pháp ghi là Le Temple d'Litérature, đều với nghĩa là Đền thờ văn học, nhằm phân biệt với Vũ miếu, hay còn gọi là Đền chiến tranh. Với định nghĩa như vậy làm mất đi ý nghĩa ban đầu, chỉ còn biểu tượng của văn học, mang tính chất chung chung.
Người châu Á, cụ thể là Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, định nghĩa khác với người châu Âu. Sách Từ Nguyên cho rằng: “Văn miếu: miếu thờ Khổng Tử, năm thứ 27 niên hiệu Khai Nguyên thời Đường (739), phong Khổng Tử là Văn Tuyên vương, gọi miếu Khổng Tử là Văn Tuyên vương miếu […] Từ đời Nguyên, Minh về sau phổ biến gọi là Văn miếu.

Văn miếu: Khổng Tử miếu, Đường Khai Nguyên nhị thập thất niên, phong Khổng Tử vi Văn Tuyên vương, xưng Khổng miếu vi Văn Tuyên vương miếu […] Nguyên Minh dĩ hậu thông xưng Văn miếu”1.
Trong Từ điển Hán ngữ hiện đại, các tác giả của bộ sách đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Văn miếu: miếu tế thờ Khổng Tử thời xưa/ Văn miếu: cựu thời tế tự Khổng Tử đích miếu"1.
Người Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Nho giáo có cách lý giải riêng. Có thể thấy điều đó trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh xuất bản vào những năm 50 của thế kỷ trước. Ở mục Văn miếu, học giả họ Đào giải thích: “Văn miếu: miếu thờ Khổng Tử do nhà nước dựng lên”2. Hoặc như trong Từ điển quan chức của Đỗ Văn Ninh xuất bản vào năm 2002, cho rằng: “Văn miếu: nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối...”3.
Như vậy, giữa người châu Âu và người châu Á, giữa từng nước với nhau đều có định nghĩa về Văn miếu nhưng không giống nhau. Sự không giống nhau là do cách nhìn nhận, lý giải vấn đề ở từng góc độ khác nhau. Đây là điều bình thường bởi xét cho cùng các định nghĩa chỉ mang tính tương đối.
Xét về nghĩa gốc thì đúng Văn miếu là miếu thờ văn, mà Khổng Tử là biểu tượng tối cao về người thầy văn học. Thờ văn học chính là thờ Khổng Tử và thờ Khổng Tử chính là thờ Văn học. Thờ Khổng Tử còn có nghĩa là thờ người khai mở việc học, là người đại biểu ưu tú của văn học. Song, bên cạnh thờ Khổng Tử còn các vị tiền bối của Nho giáo mà các vị này được thờ phối hưởng với ông ở Văn miếu của Trung Quốc cũng như ở Việt Nam.
Xuất phát từ nhận thức đó, theo chúng tôi nên định nghĩa Văn miếu là nơi thờ Khổng Tử cùng các vị tiên triết của Nho giáo. Định nghĩa như thế chỉ là sự mở rộng đối tượng được thờ tự tại Văn miếu mà thôi.
Còn Văn từ và Văn chỉ do xây dựng ở cấp huyện, cấp tổng và cấp xã (chủ yếu tạo dựng dưới triều Nguyễn) nên người Việt Nam đặt ra tên gọi như vậy để phân biệt với Văn miếu vốn được xây dựng ở cấp trung ương, cấp phủ và cấp tỉnh.
Trên thực tế và kết hợp điều tra di tích tại địa bàn Vĩnh Phúc, chúng tôi thấy không hoàn toàn như vậy. Chẳng hạn cùng là nơi thờ Khổng Tử cùng các Tiên hiền của Nho giáo ở cấp xã, nơi này gọi là Văn chỉ, nơi kia gọi là Văn từ, nơi khác nữa gọi là Từ vũ, thậm chí có nơi gọi là Văn miếu.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ cuốn sách, chúng tôi tạm thời chưa đi sâu bàn về các tên gọi này mà chỉ tuân thủ theo cách gọi truyền thống, thống nhất dùng tên gọi như sau:
Văn miếu: dùng để chỉ di tích của Nho giáo ở cấp phủ (phủ Tam Đới, phủ Vĩnh Tường).
Văn từ: dùng để chỉ di tích của Nho giáo ở cấp huyện và cấp tổng.
Văn chỉ: dùng để chỉ di tích của Nho giáo ở cấp xã.

1.3. Văn miếu Văn từ Văn chỉ ở nước ta

Nho giáo xuất hiện ở Việt Nam đi cùng với sự xuất hiện của các viên đô hộ người phương Bắc. Chính sử Trung Quốc cũng như Việt Nam ghi nhận, đầu công nguyên, Thái thú Nhâm Diên và Tích Quang cho dựng trường ở Giao Chỉ và Cửu Chân, dạy học trò phục vụ đường lối cai trị của họ. Tuy vậy, qui mô và ảnh hưởng ở buổi sơ khai còn rất hạn chế, chỉ tập trung ở trung ương gắn với trung tâm đầu não chính trị mà chưa ảnh hưởng đáng kể đến các vùng nông thôn.
Kể từ khi nước nhà độc lập vào năm 938, đặc biệt dưới triều Lý, mặc dù phật giáo còn đang chiếm vị trí chủ chốt trong đời sống xã hội nhưng vương triều này đã nhận thấy vai trò của Nho giáo trong việc quản lý và điều hành đất nước. Nho giáo giờ đây được tiếp nhận một cách cởi mở và theo cùng với nó là những thiết chế văn hóa cũng từng bước được hình thành. Trong bối cảnh ấy, Văn miếu được nhắc đến là lẽ đương nhiên. Chính vì vậy vào năm 1070, dưới triều vua Lý Thánh Tông, triều đình bắt đầu cho xây dựng Văn miếu tại kinh thành Thăng Long.
Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi như sau: “Năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ thứ 2 (1070), mùa thu, tháng 8, dựng Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu công và Tứ phối, vẽ tranh Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Vua cho Hoàng tử đến học ở đó”1. Năm 1076, triều đình cho lập Quốc tử giám bên cạnh Văn miếu “tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học bổ vào đó”2. Qua đây cho thấy Văn miếu của người Việt Nam khi mới xây dựng đảm nhận hai chức năng, vừa là nơi thờ tự, vừa là nơi đào tạo nhân tài, mang nét riêng của dân tộc. Còn đặt trường học bên cạnh Văn miếu giúp người đi học có nơi chiêm bái chỉ là tiếp thu từ mô hình Văn miếu của Trung Quốc.
Cuối triều Trần, Nho giáo ngày càng củng cố, triều đình tạo bước đột khởi về tư tưởng bằng việc đưa người bản địa vào thờ phụ tại Văn miếu Quốc tử giám.
Người đầu tiên là Chu Văn An, tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, người làng Quang Liệt huyện Thanh Trì (nay là thôn Văn xã Thanh Liệt huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội), từng đỗ Thái học sinh dưới triều vua Minh Tông (1314 - 1329), làm quan Tư nghiệp Quốc tử giám, dạy học cho Thái tử. Thời vua Dụ Tông (1341-1369), ông dâng“ Thất trảm sớ” chém bảy nịnh thần nhưng không được triều đình chấp thuận, bèn treo mũ từ quan về ẩn cư tại núi Chí Linh.
Người thứ hai là Trương Hán Siêu, tự Thăng Phủ, hiệu Độn Tẩu, người xã Phúc Am huyện Yên Khánh (nay thuộc huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình) làm quan đến chức Gián nghị đại phu Tham tri chính sự.
Người thứ ba là Đỗ Tử Bình, chưa rõ quê quán, làm quan đời Trần Phế Đế, lĩnh chức Nhập nội Hành khiển, Tả tham tri chính sự, thăng Kinh lược xứ Lạng Giang.
Việc đưa ba vị danh nho vào thờ phối hưởng với các vị tiên triết của Nho giáo ở cuối thời Trần là nét riêng của Văn miếu Việt Nam so với Văn miếu Triều Tiên và Nhật Bản, bởi hai nước này chỉ thờ các vị tổ Nho giáo giống như Trung Quốc.
Ở cấp trấn, lộ đầu thời Lê, sau khi đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập dân tộc, triều đình thấy cần thiết phải xây dựng và quản lý đất nước theo mô hình lấy Nho giáo làm nền tảng như của Trung Quốc. Muốn vậy cần phải có đội ngũ quan lại đào tạo theo con đường khoa cử. Văn miếu giờ đây được xem như thiết chế văn hóa hỗ trợ cho công việc này. Hiện tại qua nghiên cứu, chúng tôi xác định vào triều Lê sơ, triều đình bắt đầu cho xây dựng Văn miếu tại các trấn lộ, qua ghi nhận của Nguyễn Tông Khuê1, khi ông viết bài văn bia Trùng tu Thánh miếu bi ký cho Văn miếu phủ Kinh Môn vào năm 1751:“ Bản triều ta vào khoảng niên hiệu Thuận Thiên (1428 - 1433) và Thiệu Bình (1434 -1439) bắt đầu sai quan ở trấn lộ dựng Văn miếu làm nơi thờ tự, theo nghi thức ở nhà Quốc học. Hiệu quan ở các phủ huyện sửa đủ lễ vật mang đến lễ bái" (No.6506). Đây là tư liệu sớm nhất đề cập đến việc xây dựng Văn miếu tại các trấn lộ phản ánh qua tư liệu văn bia. Những Văn miếu xây dựng trong thời gian ấy còn lại đến nay có lẽ chỉ là Văn miếu tỉnh Hải Dương, bởi theo ghi nhận trên văn bia ở đây: Văn miếu có xuất xứ từ Văn miếu của trấn Hải Dương.
Ở cấp phủ, theo thống kê trong kho thác bản văn bia lưu trữ tại VNCHN, cả nước có 4 Văn miếu hàng phủ. Số liệu này đương nhiên chỉ phản ánh một phần sự thật. Ngoài Văn miếu phủ Tam Đới sẽ đề cập ở phần sau, ba Văn miếu hàng phủ còn lại, gồm:
Văn miếu phủ Trường Yên: ban đầu đặt tại phường Vân Sàng xã Thiện Trạo huyện Gia Viễn, sau vì địa thế núi sông cách trở, lại binh hỏa làm cháy nên chuyển đến phần đất của ông Đinh Thế Hưng cùng xã, dựng thành Văn miếu mới của phủ vào năm Hoằng Định thứ 7(1606), ghi nhận trên bia Cấu tác Văn miếu bi (No.6506).
Văn miếu phủ Kinh Môn: ban đầu xây dựng đặt tại xã Hà Trường huyện Giáp Sơn, năm Giáp Ngọ (1750) di dời về xã Trần Xá cùng huyện, tạo thành Văn miếu gồm 2 tòa, mỗi tòa 5 gian, lợp ngói bích, xây tường bao quanh, ghi trên bia Thánh miếu bi ký (No.12158).
Văn miếu phủ Khoái Châu: ban đầu xây dựng tại xã Diên An huyện Kim Động, đến năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795) chuyển về xã Cù Sơn cùng huyện, tạo thành Văn miếu mới của phủ, ghi trên bia Khoái Châu Văn miếu bi (No.3567).
Dưới triều Nguyễn, hầu hết các tỉnh, thành, đạo của nước ta đều lập Văn miếu lấy làm nơi thờ Khổng Tử cùng các vị tiên triết của Nho giáo. Theo thống kê trong Đại Nam nhất thống chí - Bộ sách địa chí quan trọng gồm nhiều quyển biên soạn vào cuối thời Tự Đức (1848-1883), các tỉnh thành có lập Văn miếu, gồm Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định…, gồm 28 nơi.
Ở cấp huyện, vẫn theo số liệu thống kê từ kho văn bia của VNCHN, cả nước có 37 Văn từ phân bố trên địa bàn của 18 tỉnh thành trên phạm vi toàn quốc.
Ở cấp tổng, từ số liệu thống kê dựa vào nguồn văn bia nêu trên, cả nước có 37 Văn từ phân bố ở các huyện thuộc 15 tỉnh thành trên cả nước.
Ở cấp xã là Văn chỉ cấp xã, cả nước có 221 Văn chỉ phân bố trên địa bàn của 21 tỉnh thành trong cả nước nhưng tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ. Đây là những Văn chỉ dựng chủ yếu vào thời Nguyễn, khi Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn trong đời sống tinh thần của toàn xã hội. Văn chỉ ở Việt Nam có hai dạng: dạng có mái che và dạng lộ thiên nhưng dạng lộ thiên là phổ biến. Địa điểm đặt Văn chỉ thường liền kề với đình chùa nhằm tiện lợi cho việc tế lễ vào ngày đinh của tiết xuân thu trong năm.
Dưới xã còn có Văn chỉ của thôn, giáp, trang, trại.
Tựu trung, do ảnh hưởng của Nho giáo nên người Việt Nam tiếp nhận Văn miếu như một biểu tượng về văn hóa mang ý nghĩa tốt đẹp, thể hiện lòng tôn sư, trọng đạo, khuyến khích học tập, tạo ra những người có tri thức cho dân tộc. Tuy nhiên, việc xây dựng Văn miếu theo từng cấp độ hành chính của đất nước là sự tiếp nhận từ mô hình Văn miếu của Trung Hoa diễn ra trong thời kỳ đất nuớc giành độc lập tự chủ. Điểm khác ở đây chỉ là tên gọi của từng cấp độ mà thôi. Điều đó cũng khác với Triều Tiên và Nhật Bản, hai nước chỉ xây dựng Văn miếu ở cấp trung ương.

 

Các tin đã đưa ngày: