NHỮNG LỜI CHÚC VÀ BIỂU TƯỢNG TỐT LÀNH TRONG VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG

03/06/2019

 

Lý ngư khiêu long môn (cá chép vượt vũ môn)

Hình cá chép (l‎ý ngư) vùng nhảy lên khỏi mặt sóng nước trước một cửa thành đề "Long môn" là biểu trưng cho nỗ lực thi cử: "L‎ý ngư khiêu long môn". Cá chép vượt "Long môn” là ngụ ý chúc thi cử đỗ đạt.

          Cử gia hoan lạc (cả nhà đều vui vẻ)

          Biểu tượng là hoa cúc và chim sẻ vàng. Cúc chữ Hán đồng âm với "cử" (chỗ ở, cư trú…), chim sẻ vàng chữ Hán là "Hoàng tước". "Hoàng" đồng âm với "Hoan" có nghĩa là "vui".          Đa phúc đa thọ (nhiều phúc nhiều thọ)

          Biểu tượng là hình con dơi và quả đào cùng xuất hiện. Dơi chữ Hán là “bức” hoặc “phúc” đồng âm với “phúc” (tốt đẹp) nên con dơi trở thành biểu tượng cho chữ “phúc” trong ba điều tốt: Phúc - Lộc - Thọ. Trái đào trong các thường hiểu là đào tiên là loại trái cây có trên thượng giới thuộc cung Dao Trì của bà Tây Vương Mẫu. Theo truyền thống thì ai ăn được đào này sẽ được trường thọ. Do đó, trái đào là biểu trưng của sự sống lâu.

          Đinh tài lưỡng vượng (cả con trai cả tiền tài đều vượng)

          Hình vẽ hai bé trai cùng xâu cá và xâu tiền. Người ta hay dùng đồng tiền cổ để cầu mong tài vận.

Đồng hỉ (cùng nhau vui vẻ)

Thể hiện hình ảnh cây ngô đồng và chim sẻ. Chim sẻ hót vui, chữ Hán là “hỉ tước”. Do đó, hình ảnh này biểu ý cho câu chúc “Đồng hỉ” nghĩa là: Cùng nhau/cả nhà đều được vui vẻ.

          Hợp gia hoan hỉ (cả nhà đoàn tụ vui vẻ)

          Thể hiện bằng hình ảnh năm đứa trẻ đang vui đùa cùng Phật Di Lặc, vì thế mà trước đây hình tượng này có tên gọi là “ngũ tử náo Di Lặc”. Di Lặc ở đây là hình ảnh một hoà thượng khoác túi vải. Phật Di Lặc còn được gọi là Phật Đại Vượng, ý cầu chúc cho gia đình an khang, hoà thuận.

Kiết khánh hữu dư (chúc dư thừa những điều tốt lành)

Thường được thể hiện với hình ảnh một chiếc kích, một cái khánh và con cá. Cái "Khánh" (nhạc cụ) đồng âm với "Khánh" (chúc thọ, mừng…) "Kích" (một loại vũ khí) đồng âm với "kiết" (điều tốt). Hai vật này phối hợp với hình “Ngư” (cá) để chúc “kiết khánh hữu dư”. Ngoài ra hai vật trên còn kết hợp với gậy "như ý" để biểu đạt lời chúc "kiết khánh như ý ".

          Kiết tường như ý (chúc vui như ý)

Hình một con voi, trên lưng mang cái giỏ cắm cây kích (một thứ vũ khí: “Kích” đồng âm với “kiết” (điềm tốt) và cây như ý là đồ án biểu ý cho câu chúc “kiết tường như ý”.

Lân mẫu xuất lân nhi (lân mẹ sinh lân con)

“Lân nhi" (Lân con) được biểu trưng cho quý tử. Đề tài này thương được biểu hiên bằng mọt con Lân mẹ và một con Lân con, định danh là “Lân mẫu xuất Lân nhi” để biểu thị cha mẹ thuộc dòng dõi qu‎ý phái sinh ra con cái hay tốt, tài giỏi.

Liên sinh quý tử (sen sinh con quý)

Hình ảnh cậu bé ngồi trên lá sen hoặc tay cầm hoa sen với ý nghĩa: chúc sớm có con.

Long phượng trình tường (long phượng bày ra điềm lành)

Hình tượng rồng - phường đi cùng nhau. Thể hiện lời chúc tốt lành, may mắn. Long (rồng) biểu trưng cho nguyên lý dương, phượng biểu trưng cho nguyên lý âm. Kết hợp long và phượng biểu thị cho việc âm dương hòa hợp, trời đất giao hòa. Nói rộng ra, “long – phượng trình tường” có nghĩa “mưa thuận gió hòa” “phong đăng hòa cốc”, “quốc thái dân an” “thái bình thịnh trị”.

Bát tuấn cát tường (tám con ngựa hay)

Là hình ảnh tám con ngựa, “tám” đọc là “bát” đồng âm với chữ “phát” nghĩa là phát đạt, phát triển, phát tài. Hình tượng ngựa biểu trưng sự gia tăng tiền tài và thăng quan tiến chức. Con ngựa là không những là con vật trung thành nhất, ngựa còn là biểu tượng của sự kiên nhẫn, bền bỉ, lâu dài, là con vật mang lại sự may mắn, tài lộc.

Mã đáo thành công (ngựa đáo thành công)

Hình tượng ngựa biểu trưng sự gia tăng tiền tài và thăng quan tiến chức. Người ta quan niệm con ngựa là không những là con vật trung thành nhất, mà còn là biểu tượng của sự kiên nhẫn, bền bỉ, lâu dài, là con vật mang lại sự may mắn, tài lộc. Ngựa phi nước đại tượng trưng cho sự phát đạt trong kinh doanh, sự nhanh nhạy và tăng tiến trong tiền tài.

Mã thượng phong hầu (khỉ cưỡi ngựa)

Thường là tượng một con khỉ trên lưng con ngựa - để mong ước cho việc thăng quan tiến chức, thường được đặt ở bàn làm việc. Lý do của việc dùng hình tượng này là chữ “hầu” nghĩa là khỉ cũng trùng âm với chữ “hầu” trong “vương hầu”. Cặp từ “ Phong hầu” có nghĩa là lên chức, tiến chức, còn chữ “Mã thượng” mang ý nghĩa là ngay lập tức. Do vậy hình tượng con khỉ ngồi trên lưng con ngựa là hình ảnh hàm ý cho câu “ Mã thượng phong hầu” thể hiện chủ ý cầu mong sự thăng quan tiến chức nhanh chóng.

Mãn đường hồng (may mắn hạnh phúc tràn ngập cả nhà)

Thể hiện bằng hình ảnh hoa mẫu đơn. Đây là loài hoa được coi là chúa của loài hoa, biểu trưng cho sự phú qu‎ý vì hoa này được xưng tụng là “Phú quý hoa”.

Ngũ phúc lâm môn (năm loại phúc cùng đến nhà)

Biểu tượng là hình năm con dơi. Người ta cho rằng dơi là loài thú tốt lành, vì thế mà còn gọi nó là “phúc thử” (chuột phúc). Trên đồ sứ hoặc tranh hay các bức chạm khắc, thường thể hiện hình năm con dơi đậu bên cửa bao hàm ý nghĩa “ngũ phúc lâm môn”. Theo sách Thượng thư (Trung Quốc) có ghi năm điều phúc đó là: Thọ, Phú, Khang, Đức, Khảo Chung Mệnh (sống đến già). Nhưng trong dân gian thường lại quan niệm “ngũ phúc” là: Phúc, Lộc, Thọ, Hỷ, Tài hay Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.. Người Việt Nam ta lại cho đó là: Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh.

Nhất định như ý

Thể hiện bằng hình một đĩnh vàng và gậy như ý. Một đĩnh vàng hay bạc chữ Hán là “Nhất đĩnh”, đồng âm với “nhất định” (quả quyết, chắc chắn). Hình họa một nén vàng và gậy như ý, biểu trưng cho câu chúc "Nhất định như ý ".

Niên niên đại cát (năm nào cũng gặp may mắn)

Được biểu thị bằng chữ “Cát Tường” trên hoa sen.

Niên niên hữu dư (năm nào cũng dư thừa)

Biểu tượng là hình con cá nằm trên hoa sen hoặc đàn cá bơi dưới hoa sen. Vì chữ “Liên”(sen), phát ấm giống chữ “Niên” đồng thời lại giống như chữ “Liên” là “liên tục, liên tiếp”, chữ “Cá” đọc là “ngư” đồng âm với chữ “Dư” có nghĩa là “dư thừa”, “dư dật”. Nếu là tranh nên treo ở văn phòng, phòng khách. Nếu là ngọc chạm trổ thì có thể đeo trên người.

Phú quý hữu dư (phú quý dư thừa)

          Hình ảnh cá chép bơi lội hoặc cá chép với hoa mẫu đơn hay hình hoa mẫu đơn và hai đứa bé ôm con cá biểu trừng cho lời chúc phú quý dư thừa.

Phúc - Lộc - Thọ

Thể hiện bằng hình ảnh: dơi, nai, tùng. Từ “dơi” chữ Hán đọc là “phúc” đồng âm với “phúc” (tốt lành); “nai” chữ Hán đọc là "lộc" đọc đồng âm với “lộc” (bổng lộc) ; và “tùng” là loài cây sống lâu và là lá luôn xanh tươi biểu trưng cho sự “trường thọ”. Do đó, đồ án này phối hợp Dơi – Nai – Tùng biểu trưng cho Phúc – Lộc – Thọ.

Quy hạc trường thọ (rùa và hạc sống lâu)

Hình ảnh hạc rùa đi cùng với nhau, thể hiện lời chúc thọ. Hai con vật đều biểu trưng cho sự sống lâu. Câu chúc tụng thường gặp của biểu trưng rùa – hạc là “quy trù hạc toán”, có nghĩa là “thọ ngang với rùa và hạc” (trù là cách bỏ thẻ để tính; toán là dùng bàn tính mà tính tuổi). “Thọ đẳng quy hạc”, “qui hạc tề thọ”… Tuy nhiên, hình tượng hạc đứng trên lưng rùa là hình tượng biểu trưng cho tổng hợp thể không – thời gian “vũ trụ” : bốn phương và trên dưới là vũ; xưa qua nay lại là trụ. Nói cách khác “hạc – rùa” biểu trưng cho sự trường tồn bền vững và vĩnh cửu.

Sinh khánh đồng âm

Sinh (hay sênh) là một thứ nhạc khí cổ; khánh là đồ nhạc khí làm bằng ngọc hay đá. Hình họa văn hoa loại nhạc cụ này biểu trưng cho câu “ Sinh khánh đồng âm” chỉ sự đồng tâm, đồng chí, tính tình hòa hợp.

Tảo nam khánh dư (sớm có con trai và dư dả)

Biểu tượng là hình bé trai đeo khánh và cá đỏ bơi lội trong đám rong. Rong chữ Hán đọc là “tảo”, đồng âm với “tảo” (sớm). Cá chữ Hán đọc là “yu” đồng âm với “dư” (dư dả). “Tảo ngư” được coi là đồng âm với “tảo dư” có nghĩa là sớm có dư ăn dư để. Hình tượng Rong – Cá còn biểu trưng cho lời chúc tụng mau phát đạt, phát tài.

Tôn tử vạn đại

Thể hiện hình các bé trai gái và giàn bầu sai quả. Đám bé trai biểu thị cho con cháu đông đúc, (tôn tử) ; giàn bầu sai trái ngụ ‎ý chỉ số nhiều (hàng vạn) ; trái bầu có nhiều hạt ("Hạt" chữ hán gọi là " tử " đồn âm với "tử" là con) và mặt khác bầu là loại trái có cuống dài ("Cuống dài" chữ hán gọi là "Đại" : thời đại). Đồ án này biểu thị cho câu " Tôn tử vạn đại" tức chúc tụng sự nối truyền của tộc họ.

Trúc báo bình an

Một cành trúc cắm trong cái bình do một đứa bé bưng dâng lên biểu ‎ý cho câu: “trúc báo bình an”.

Tùng hạc đồng linh (thông và hạc tuổi thọ ngang nhau)

Hình ảnh hạc trắng đứng trên cây thông, cầu chúc sống lâu.

Uyên ương tịnh đế (uyên ương cùng một gốc)

Được biểu thị bằng hình Sen – Uyên ương. Trong đó có một khóm sen chung một gốc, từ một gốc đó vươn ra hai bông hoa và lá; bên dưới sen là cặp uyên ương đang bơi. Câu này chúc trai gái bên nhau không rời.

Vạn niên thanh (vạn năm tươi tốt)

Cây “vạn niên thanh” là loại tảo mà lá luôn xanh tươi. Do đó, chúng được dùng để biểu trưng cho sự trường xuân (như tùng, trúc). Ở đồ án vẽ chậu vạn niên thanh để trên cái đôn, hoặc do một bé trai bưng thì ngoài ‎ý nghĩa trên còn có ngụ ý câu chúc “vạn niên khánh”. Từ “thanh” (xanh) âm là “xính” đồng âm với từ “khánh” cũng đọc là “xín”, có nghĩa; vui mừng , chúc tụng.

Linh Ngã

Các tin đã đưa ngày: